Tổng số lượt xem trang
Thứ Ba, 29 tháng 5, 2018
72.000 CỮ NHÂN THẤT NGHIỆP VÀ NGÀNH GIÁO DỤC SẼ GIÃI QUYẾT THẾ NÀO?
72.000 CỮ NHÂN THẤT NGHIỆP VÀ NGÀNH GIÁO DỤC SẼ GIÃI QUYẾT THẾ NÀO?
Hiện tượng sinh viên ra trường kiếm không ra công ăn việc làm, rồi đành đăng ký học tiếp lên thạc sĩ, là chuyện thường tình ở các nước Âu Mỹ. Số này đã lên 20%. Cái mà các nước Âu Mỹ đang lo sốt vó, đó là số sinh viên ra trường nợ nhà nước tiền vay đi học đã khá lớn. Ở Mỹ, sinh viên nợ nhà nước vào khoảng 2.000 tỉ đô. Một con số kinh khủng: 40 triệu tỉ đồng VN, 8 lần GDP của VN. Do đó, vấn đề của VN không đến nỗi nghiêm trọng.
Theo Thiện mỗ nhận thấy, thì trong số 72.000 cữ nhân này, phần lớn là các con em ở các tĩnh, các vùng quê, thuộc thành phần nông dân, muốn đi học cao để khỏi làm nông dân cực khổ. Do đó, họ muốn ở lại thành thị, không muốn về lại quê.
Ngoài ra, người ta dạy cho sinh viên ra trường cái tâm lý là xách bằng đi xin việc, sau khi tốt nghiệp. Vậy ai là người tạo công ăn việc làm cho ta. Các công ty đa quốc gia như IBM, Intel, Honeywell, Oracle, hoặc các công ty FDI? Không phải chỉ ở VN đâu, mà ở châu Âu Mỹ cũng thế. Bây giờ, người ta mới nhận thấy là ngay từ khi ở ghế nhà trường, phải tập cho sinh viên cái tinh thần khởi nghiệp (start up) tự mình phải suy nghĩ tìm tòi tạo một ngành nghề mới đem lại công ăn việc làm cho mình và cho những người chưa đi học. Đó là lý do vì sao tôi tư vấn cho cô thạc sỉ ở Úc về, cô Đào thị Hằng, làm cái nghề bán mắm, trong khi cô ta chuyên ngành biến đổi khí hậu. Một quốc gia muốn phát triển, thì phải có một đội ngủ trí thức có óc sáng tạo và khởi nghiệp, từ những cái nhỏ nhất trở đi. Khoang nghỉ tới chuyện to tát lên cung trăng.
Cách đây 53 năm, khi tôi đang làm việc và lấy vợ Thuỵ Sĩ, thì bà già vợ người Thuỵ Sĩ thường lấy kinh thánh ra giãi thích tình hình kinh tế thế giới. Theo kinh thánh thì bao giờ cũng cỏ 7 năm bò béo, 7 năm bò gầy. Bò béo để chỉ sung túc, còn bò gầy chỉ khốn khổ. Do đó, áp dụng cho Việt Nam, thì từ 2001 đến 2007 là những năm bò béo, còn từ 2008 đến 2014 là bò gầy. Bạn thữ kiểm tra xem có đúng không. 2008 là năm BDS bị khủng khoảng ở Mỹ và ở VN. GDP của VN từ 13,5% xuống còn 5,5%. Bây giờ 2014, những năm bò gầy cũng sắp hết, chắc là sang năm tới kinh tế sẽ ấm dần lên, nếu trong năm 2014 này ta biết chuẩn bị cho cuộc đua 7 năm bò béo kế tiếp.
Còn chuyện 72.000 "nhà trí thức, hết gạo chạy rông", người thì đổ lỗi cho tư vấn sai (cô Appricot Lee chớ có buồn lòng), người thì bảo phụ huynh và sinh viên đã chọn sai đường, người thì đổ lỗi cho nhà nước không biết dự đoán nguồn nhân lực trong tương lai là gì. Ai cũng cho là người khác sai, còn mình thì đúng nhưng kết quả là đúng trong cái sai là "hết gạo chạy rông". Bây giờ, ta thử chơi trò phân tích vấn đề: (1) các nhà tư vấn không biết lý thuyết bò gầy bò béo của Kinh Thánh. Các nhà diễn thuyết chém gió không nghĩ đến tra cứu Kinh Thánh về vụ này; (2) khi tư vấn bạn chọn một ngành nào đó, cho đến khi bạn ra trường, có một thời gian 4 năm gọi là lead-time.
Do đó, nếu ta bắt đầu 2001, là bắt đầu chu kỳ bò béo, thì những ngành hot được tư vấn khi ra trường vào 2005 đến 2009 ai ai cũng có việc làm vì là những năm trong chu kỳ bò béo. Nhưng những ai được tư vấn từ những năm 2005 đến 2008, thì họ vẫn được tư vấn y như trước do kết quả tốt của 4 năm bò béo, và do lead time nên chỉ qua 2009 trở đi, do là ở trong chu kỳ bò gầy, "cục sạn thất nghiệp" bắt đầu tích luỹ lớn dần lên đến 2013 người ta bắt đầu thấy rõ, nên bây giờ than van. Kết luận là chã có ai sai cả. Chỉ có điều người ta không biết đến chu kỳ bò béo bò gầy và lead-time (yếu tố này có trong tồn kho, ERP) mà thôi, nên trách họ là oan.
Trong một blog của tôi, tôi đã từng viết như sau: "Con người ta sinh ra, không phải chỉ để ăn như nhiều người bỡn cợt nói thế, mà thực chất là để giải quyết các vấn đề cho bản thân, cho gia đình, cho xã hội, cho đất nước hoặc cho nhân loại. Các vấn đề là muôn hình vạn trạng, thượng vàng hạ cám. Mà muốn giải quyết vấn đề thì phải học. Học từ khi còn tấm bé trong gia đình, rồi học khi vào trường tiểu học trung học, rồi ở đại học, rồi học ở trường đời khi đi làm việc. Nói tóm lại, là phải học cách giải quyết các vấn đề. Có các vấn đề trong quá khứ, hiện xảy ra trong hiện tại, đã được đúc kết trong sách vở mà ta phải học. Tứ thư Ngũ kinh của thời nho giáo TQ là những bài học đúc kết của người xưa giải quyết các vấn đề đạo đức, lễ nghĩa, kinh bang tế thế (kinh tế), v.v.. xảy ra trong xã hội. Ngày nay, trong các trường cao đẳng, kỹ thuật, kinh tế, ta cũng chẳng qua học cách giải quyết các vấn đề quá khứ xa xưa nhưng nay với cặp mắt khoa học hơn, nhưng nói chung là học giải quyết các vấn đề quá khứ nhưng vẫn tiếp diễn trong hiện tại. Có những vấn đề đã bị lỗi thời biến mất khỏi cuộc sống của chúng ta, nhưng cũng có những vấn đề mới sẽ xuất hiện trong tương lai, mà ta sẽ phải có phòng thí nghiệm học tìm cách giải quyết.
Nói tóm lại, giáo dục chẳng qua là cách dạy con người giải quyết vấn đề của hiện tại và của tương lai. Nếu giáo dục giúp đào tạo đúng và đủ người để giải quyết các vấn đề xảy ra trong mọi môi trường thì đây là một nền giáo dục tốt. Một nền giáo dục đào tạo được những con người có thể giải quyết vấn đề một cách ngon lành là một nền giáo dục tốt. Thế thôi."
Các bạn có biết không: cái ngành nghề điện toán, tin học, lập trình mà chúng tôi theo đuổi suốt đúng 50 năm nay (tôi vào IBM France, vào ngày 2/1/1964), và chưa chấm dứt thế mới chết chứ khi tuổi còn vài ngày nữa là sắp qua 81, khi đem ứng dụng vào đời sống kinh tế hành chánh, là giúp giãi quyết các vấn đề đã và sẽ xãy ra trong xã hội. Do đó, khi viết chương trình, ngoài phần chính, gọi là main solution, chúng tôi bao giờ cũng phải trù liệu phần alternate (còn gọi là phần error, hoặc phần exception) trù liệu thực tế của cuộc sống. Chính vì các lập trình viên được đào tạo ở VN không học trù liệu phần error & exception nên các chương trình không khả tin, đầy sai lầm. Xin lỗi là hơn cà kê dê ngỗng, nhưng rất cần thiết cho sự hiểu biết cần thiết về sau.
Bây giờ, tôi xin trở về vấn đề thất nghiệp của chúng ta. Nếu bạn chấp nhận cái nguyên lý mà chúng tôi đã đề ra ở trên: giáo dục chẵng qua là một quá trình dạy cho con người cách giãi quyết các vấn đề xãy ra trong xã hội. Và ngành điện toán cũng là ngành giãi quyết các vấn đề, nhưng sử dụng máy tính là công cụ. Do đó, con người và máy điện toán đều cùng một mục tiêu: giãi quyết một vấn đề, nhưng con người làm bằng tay (với nhiều sai sót và chậm chạp), còn máy tính là tự động, thông qua các chương trình phần mềm (chính xác và nhanh chóng). Nếu bạn chấp nhận ý kiến như sau: sinh viên ra trường là sản phẩm hoàn tất (end product) của một nền giáo dục theo kiểu sản xuất hằng loạt. Như vậy, sinh viên ra trường sẽ đi về những khách hàng tiêu thụ tiềm năng: là những cơ quan công quyền, các xí nghiệp quốc doanh hoặc tư doanh, các tổ chức, đoàn thể. Nếu số sinh viên được nền giáo dục đào tạo ra khớp với số lao động mà các khách hàng cần đến thì là lý tưởng và ta gọi là chính sách toàn dụng (full employment). Nhưng ít khi xảy ra. Số người không được sử dụng khi ra trường sẽ tham gia và đội quân thất nghiệp. Như vậy, nếu nhìn vấn đề theo lăng kính của ngành điện toán, thì số người vào được thị trường lao động là main solution của chương trình nhân dụng, còn số dân thất nghiệp là phần error hoặc exception hoặc alternate của chương trình nhân dụng. Bộ giáo dục là tác nhân thực hiện chương trình giáo dục và đào tạo phải trù liệu hai phần main solution và phần alternate/exception. Nếu không làm được thì đúng là Bộ bất tài. Bộ GDDT sẽ nói rằng rất khó xây dựng phần alternate vì nó liên quan đến nhiều bộ, mà lấy số liệu của các ngành khác thì rất cam go vì cái tính bảo mật của từng cơ quan công quyền cũng như tư nhân. Nói vậy, thì làm thế nào các công ty ngoại quốc, như Mc Donalds chẵng hạn, muốn chiếm lĩnh thị trường VN khi mà họ không biết chi về dân VN.
Tới đây, theo nguyên tắc bạn đã đồng ý với Thiện mỗ những nguyên lý sau đây đã được đề xuất trong các phần đi trước:
Nguyên lý #1: Giáo dục là cách giúp con người ta học hỏi những cách giãi quyết các vấn đề xãy ra trong bản thân con người, trong xã hội, quốc gia và thế giới.
Nguyên lý #2: Sinh viên ra trường là sản phẩm hoàn tất (end product) của một nền giáo dục đúng nghĩa của nó. Sản phẩm này phải đáp ứng nhu cầu về con người giúp giãi quyết các vấn đề xảy ra trong xã hội.
Nguyên lý #3: Lý tưởng mà nói, một nền giáo dục tốt phải thoã mãn chính sách toàn dụng (full employment) của xã hội. Đây là main solution của một nền giáo dục. Song song với main solution thì có mội giải pháp alternate là (1) không được có thất nghiệp, (2) cũng như không được có sinh viên ra trường mà bên sử dụng phải cho đào tạo lại, vì kiến thức thiếu hụt; (3) không được có những môn học đã lỗi thời, phải cho đào thải chúng, thay vì đào tạo sinh viên theo những môn này sau ra trường không sử dụng được, hoặc không đất dụng võ.
Bây giờ ta đi vào giãi pháp chính (main solution) cho một nền giáo dục tốt, toàn diện, hiện đại. Và thêm một cái đuôi thường lệ: "giàu bản sắc dân tộc" (???). Bạn có thấy rùng mình không: vì cái giãi pháp chính của nền giáo dục mà ta mong tạo dựng, nó là một cục đá to tướng án ngữ trước mắt ta. Ta như là thằng nhỏ liliput. Làm sao đây. Do đó, trước đó, ai cũng thất bại không làm gì được.
Tôi phải mất nhiều đêm động não. Rốt cuộc tôi đi đến kết quả như sau, trình bày cho bạn hay. Tôi muốn xem bạn "hấp thụ" ý tưởng của tôi ra sao. Ý tưởng như sau: tôi sẽ sử dụng SCM để phân tích "căn bệnh" khó nói, khó giải của nền giáo dục VN. SCM là gì. Đó là viết tắt của cụm từ Supply Chain Management, nghĩa Quản lý Chuỗi Cung ứng. SCM là một chức năng của ERP (Enterprise Resources Planning - Hoạch định Nguồn lực Xí nghiệp) một hệ thống quản lý xí nghiệp sử dụng máy tính. Vì ta đã chấp nhận nguyên lý #2 là ngành giáo dục đào tạo sinh viên tương tự như một sản phẩm hoàn tất trong kỹ nghệ, thì việc sử dụng SCM theo máy tính áp dụng cho giáo dục đối với Thiện mỗ chả có chi là lạ cả. Lạ ở chỗ là chả ai nghỉ tới giùm cho việc áp dụng. Nếu bạn nào muốn tìm hiểu về SCM, thì mời vào "Dương Quang Thiện blog" tìm đọc 3 bài báo về SCM.
Bây giờ, bạn tưởng tượng như thế này: bạn xem nhà giáo dục như là một nhà sản xuất một sản phẩm hoàn tất (sinh viên). Trong ngành sản xuất người ta đi từ một ý tưởng gì đó, rồi cho nghiên cứu và triền khai (R&D), tiếp theo qua sản xuất, rồi qua khâu vận tải chuyên chở (logistic) cuối cùng đến phân phối sản phẩm cho đến tay người tiêu dùng là các cơ quan công quyền, các xí nghiệp quốc doanh/tư doanh, các tổ chức, v.v... Những công đoạn sản xuất này hình thành một chuỗi (giống như trên một chuỗi tràng hạt của các nhà tu hành), trước kia bị chia cắt, theo phân công lao động, nên gây ra phí tổn cao. Do đó, trong thời đại máy tính kỹ thuật số này, người ta dùng phần mềm quản lý SCM để quản lý các công đoạn sản xuất giúp giảm chi phí, tăng năng lực cạnh tranh, v.v..
Nếu đem áp dụng cho giáo dục, thì bạn thấy "chuỗi cung ứng" (supply chain) này kéo dài từ lớp mẫu giáo mầm non, qua tiểu học, trung học, cao đẵng nghề, rồi đến đại học, hậu đại học, nghĩa là một khoảng thời gian dài gần 20 năm của đời người. Như vậy, trong mỗi công đoạn (mầm non, tiểu học, ..) ta phải có một phương pháp nghiên cứu, phân tích, đánh giá, thi công thế nào, để cuối cùng có thể biết "giá thành sản phẩm" của mỗi con người trong công đoạn đào tạo. Mục tiêu của mỗi công đoạn là giá thành phải nhỏ, nhưng vẫn phải bảo đãm chất lượng. Khi công đoạn trong chuỗi cung ứng này qua công đoạn kia, thường phải có một "giao diện" trung gian cho phép chuyển từ công đoạn đi trước qua công đoạn kế tiếp đi sau. Thí dụ giao diện giữa công đoạn trung học qua công đoạn đại học là kỳ thi tốt nghiệp lớp 12.
Trong mỗi công đoạn trên chuỗi cung ứng giáo dục, ta sẽ dùng phương pháp luận được gọi là CDIO tắt cụm từ Conceive Design Implement và Operation, nghĩa là: hình thành ý tưởng, thiết kế ý tưởng, thực hiện và vận hành. Phương pháp luận này hiện đang được dạy ở khoa CNTT tại ĐHQG TP HCM.
Nói tóm lại, ta sẽ sử dụng SCM (thuộc ERP) và phương pháp luận CDIO để nghiên cứu toàn bộ hệ thống giáo dục và tiến hành cãi tổ. Sau khi hệ thống giáo dục được cãi tổ xong thì phần mềm SCM/CDIO sẽ được xây dựng theo dõi và thống kê liên tục để đánh giá so sánh với một cái chuẫn để biết những sai lệch nào mà sữa chữa kịp thời không có độ trễ.
Một điểm khác mà Bộ GDDT không hề nghĩ đến là marketing (tiếp thị). Một nhà sản xuất, chỉ khi làm ra sản phẩm mới đem đi bán cho bà con thiên hạ để thu tiền về. Nếu sản phẩm bán ra là dỏm khác với những gì đã quảng cáo trên truyền thông đại chúng, hoặc trong những kỳ tư vấn hoành tráng, thì thế nào nhà sản xuất cũng sẽ bị gán cho cái tội lừa đảo, bị lôi ra toà là cái chắc. Còn hệ thống các trường đại học thuộc Bộ GDDT thì thế nào. Thu học phí trước, đào tạo sau. Đào tạo thế nào mà bây giờ ngồi than là có đến 72.000 thạc sĩ thất nghiệp, và còn bao nhiêu tiến sĩ giấy thấm nước chấm thất nghiệp. Có nên gán cho các trường ĐH này là những tập đoàn lừa đảo hay không: thu học phí trước rồi cho ra người ngợm không ra gì, không sử dụng được, phải "tái chế" lại kiến thức và kỹ năng mới mong sử dụng lại được phần nào.
Trong sản xuất tiên tiến hiện đại, người ta vừa thêm một bộ phận được mệnh danh là TIẾP THỊ (marketing). Các trường kinh tế, quản trị kinh doanh đều có dạy bộ môn marketing này, đôi khi người dạy có thể không hiểu thấu hết cái ý nghĩa sâu xa của bộ môn này. Thấy bên Mỹ có bộ môn này, người ta cũng mua sách về đọc, cho mở bộ môn, rồi tha hồ chém gió. Cái nực cười là sinh viên marketing khi ra trường họ không hiểu cái nghề họ làm gì, mà lại làm bằng tay, không hề nghĩ đến việc tạo ra phần mềm để thu thập và khai thác số liệu tiếp thị. Trong thực tế, ngành này đòi hỏi những loại thông tin rất đặc biệt, phải sử dụng máy tính một cách triệt để để thu thập, và phải dùng những phần mềm phân tích để làm việc, chứ không ai đời làm bằng tay cả. Mục tiêu của marketing là gì? Đơn giản là làm thế nào trong tương lai, người tiêu thụ họ sẽ cần những món hàng gì, mẫu mã ra sao, số lượng bao nhiêu trãi dài theo thời gian, giá cả chấp nhận được, phân bổ theo địa lý thế nào. Khi bộ phận marketing đã có những số liệu này xong, thì sẽ phối hợp với bộ phận R&D để nghiên cứu ra sản phẩm, v.v... Nói tóm lại, bộ phận marketing lo thăm dò thị hiếu trong tương lai của người sử dụng, biết được hiện tình tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp ra sao, v.v... Do đó, theo Thiện mỗ, đáng lẻ Bộ GDDT phải có bộ phận marketing từ lâu, thế mà đến giờ này, Bộ chưa hề nghĩ đến điều này, đúng là lỗi thời kinh khủng.
Nói tóm lại, những khái niệm về ERP, SCM, CDIO, và Marketing mà Thiện mỗ đã đề cập trong các phần trên thì các trường đại học ở VN đã dạy rồi, nên thiết nghĩ Bộ GDDT không xa lạ gì. Bộ nên nhờ các đại học tư vấn và cho áp dụng để cãi tiến hoạt động của mình.
Thiện mỗ xin đề nghị những điểm sau đây: (1) Bộ GDDT nên thành lập một bộ phận marketing, với ý đồ, công năng như Thiện mỗ đã mô tả ở trên; (2) Theo luật, nghĩa là phải ra luật bắt buộc tại các cơ quan hành chánh chính quyền, tại các xí nghiệp quốc doanh/tư doanh, tại các cơ quan tài chính kinh tế xã hội, tại các tổ chức xã hội, các đoàn thể, ... nói tóm lại những nơi sẽ tiêu thụ các "sản phẩm" của giáo dục, Bộ GDDT phải có những ăng ten để thu thập những thông tin liên quan đến các nhân viên mà các nơi này sử dụng, và phân biệt những ngành nghề hiện tại, và những ngành nghề mới sẽ cần phải được mở trong tương lai. (3) tạo một cơ sở dữ liệu tổng hợp và toàn diện liên quan đến các số liệu đã được thu thập ở điểm 2, và phải tạo những chương trình phần mềm khai thác xữ lý các số liệu này. (4) phối hợp với các cơ quan tiêu thụ sinh viên ra trường để bàn đến nội dung đào tạo để lên kế hoạch đào tạo liên quan đến tài liệu, giãng viên, cơ sở vật chất giáo dục. (5) đánh giá lại sự đào tạo hiện hành để đề nghị những sửa đổi, cãi cách, v.v.. Nói tóm lại, phối hợp với máy tinh khai thác tối đa công năng của marketing cho mục đích giáo dục.
Một điểm khác tôi muốn nhấn mạnh ở đây là vấn đề TIỀN BẠC. Thiện mỗ đã từng tiếp xúc với nhiều dân tộc, bây giờ buồn lòng mà nhận xét là không có dân tộc nào bê bối bằng dân VN khi đụng đến tiền bạc, và đạo đức tiền bạc. Hồi thời thực dân của ba má Thiện mỗ, thì 3 nghề mà người ta khuyên là nên tránh xa tiền bạc là: nghề nhà giáo, nghề bác sĩ y tá và nghề toà án. Ba nghề này ở VN thời buỗi này thì tay đã nhúng chàm, cái chi cũng phong bì trước tiên. Nói như theo bà má Thiện mỗ, thì thời buổi này là thời buổi kim tiền. Do đó, sau 1975, dân miền Nam học được câu: "đầu tiên, ... là tiền đâu". Bây giờ thì khỏi phải nói, phải thủ sẵn phong bì. Ở đây, Thiện mỗ chỉ xin đề cập đến giáo dục.
Hằng năm NN VN dành 20% ngân sách cho giáo dục, thế mà Bộ GDDT vẫn chê là cón quá ít. Ngoài ra, cha mẹ học sinh sinh viên đóng góp cũng không ít hơn 20% ngân sách này cho giáo dục. Theo Thiện mỗ, ngân sách 20% cho giáo dục ở VN là rất cao so với các nước khác, và không có quốc gia nào trên thế giới mà cha mẹ học sinh sinh viên đóng góp nhiều nhất cho riêng giáo dục. Ngoài ra, hằng năm các gia đình giàu có ở VN đã chi thêm 3 tỷ đô (= 63.000 tỹ đồng VN) để gởi 100.000 sinh viên du học ở nước ngoài. Như vậy, VN đã chi một số tiền khổng lồ cho giáo dục, để rồi người ta than là giáo dục VN chả ra cái gì cả: không có đại học nào trong top 500 đại học danh giá trên toàn thế giới, con em đang xin tị nạn giáo dục ở nước ngoài, ... Cái kỳ cục, người ta đã điểm danh đến 21 trường đại học dỏm ngoại quốc, phần lớn là Hoa Kỳ, đã liên doanh với các trường đại học VN để đào tạo ra những thạc sĩ dỏm. Nghĩa là VN là môi trường đắc địa để người ngoại quốc nhảy vào lừa đảo giáo dục.
Bộ GDDT thì lúc nào cũng ca bài ca thiếu tiền, các ổng vừa rồi còn đòi chi 34.700 tỷ đồng để cãi tổ giáo dục, thay đổi SGK, để rồi sau đó Bộ Trưởng phải xin lỗi vì mấy thằng đệ tữ ở dưới báo cáo láo. Thiện mỗ có cãm tưởng nơi không biết tiết kiệm là gì, nơi lãng phí kinh khủng, và nơi thiếu tinh thần yêu nước có lẻ là Bộ GDDT. Lấy chuyện sách giáo khoa. Không có nước nào thay đổi sách giáo khoa xoành xoạch như diễn viên thay áo quần. Hồi thời thực dân Pháp ở VN, sách được phát cho học trò mượn học, cuối niên học cho thu hồi lại. Nếu có thay đổi gì đó, thì người ta cho in ra một quyển sách nhỏ, cho biết trang nào từ hàng nào đến hàng nào, nội dung bị thay thế bởi nội dung mới trong quyển sách nhỏ. Nói tóm lại, cha mẹ học sinh chả bao giờ bỏ tiền mua sách, đầu năm mỗi học sinh sẽ nhận đủ sách cho niên học. Cuối năm, học sinh phải có cái màn ở lại lớp lo dán các chỗ sách rách, và màn bị phạt nặng khi không giữ gìn sách để rách sách. Với các thiết bị dạy học cũng thế. Có nhiều nơi, thiết bị dạy học đều đựơc cho trùm mền nằm chơi. Hình như Bộ không biết tiết kiệm là gì. Còn lãng phí thì khỏi nói. Xây một cái hai cái cầu tiêu mà dám chi ra 600 triệu đồng, trong khi xây nhà tình nghĩa đầy đủ tiện nghi chĩ với 25-30 triệu đồng. Trên 20 năm, Thiện mỗ đã hợp tác với báo Tuổi Trẽ xây trường học (trên 100 phòng học) cho những vùng sâu vùng xa. Kinh nghiệm cho thấy, chi phí xây một lớp học đối với Thiện mỗ chỉ tốn vào khoảng 50 triệu đồng, nhưng nếu giao cho sở giáo dục thì tốn khoảng 150 triệu đồng, nghĩa là gấp 3 lần. Bạn có thể thấy sự tiêu pha vô tội vạ, lãng phí kinh khủng của Bộ GDDT. Bạn vừa thấy một thí dụ về việc đổi SGK mà một nhân vật của Bộ đòi hỏi quốc hội duyệt chi đến 34.700 tỉ đồng.
Có một điểm mà người ta thường hay than phiền, nhắc đi nhắc lại, mỗi lần đá động đến cải tổ giáo dục, là lương trả cho giáo viên quá bèo, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Ta nên nhớ là ngân sách giáo dục đã chiếm 20% ngân sách quốc gia, là quá lớn, không thể tăng, nếu chi phí quốc phòng buộc phải tăng, do tình hình biển Đông, thì sao đây. Ở các nước châu Âu, giáo chức cũng chỉ là một công chức, nên lương của họ so với tư chức trong các xí nghiệp tư doanh thường thấp thua 20%. Tỉ lệ sai biệt 20% hiện hữu chẵng qua là cường độ làm việc của giáo chức bao giờ cũng thấp hơn so với bên tư chức. Bây giờ, bạn đem so lương giáo chức với lương phía tư chức bình thường thì theo Thiện mỗ không sai biệt quá 20% như ở châu Âu. Do đó, chả có chi mà than van đòi tăng lương. Nếu bây giờ, người ta muốn tăng lương cho giáo viên trong khi ngân sách giáo dục không thể tăng được, thì chỉ có cách duy nhất là giảm đi chi phí gián tiếp, nghĩa là giảm đi nhân viên quản lý gián tiếp trong bộ máy giáo dục. Thời buổi này, là thời buỗi kỹ thuật số, phải đưa tin học vào quản lý. Thí dụ: kế toán trong một trường học rất đơn giản, số giao dịch rất ít. Qua phần mềm, qua mạng ta có thể làm kế toán tự động tại một trung tâm, thay vì mỗi trường có một kế toán viên.
Ngoài ra, hệ thống dạy học trực tuyến, gọi là MOOC (Mass Open Online Course), nếu được thực hiện một cách có hệ thống sẽ giảm đi số giảng viên tầm thường làng nhàng, và số giảng viên giỏi có thể cho ra những giáo trình có chất lượng, và người theo học, bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào, sẽ nhiều hơn. Các nước như Úc, Mỹ, và Hà Lan đã đi đầu vào ngành MOOC mới này, áp dụng triệt để tin học trong đào tạo, giảm đi nhiều chi phí và tăng chất lượng giáo dục.
Một việc khác mà ta nên xem lại là việc cho mở ra quá nhiều trường đại học, nhưng lại thiếu trường đào tạo nghề, đưa đến tình trạng thừa thầy thiếu thợ, chất lượng dạy không đồng đều. Hồi Thiện mỗ du học ở Pháp, vào thập niên 50, Thiện mỗ nhận thấy sự phân bổ các đại học ở Pháp rất khoa học và rất hợp lý, không xô bồ như ở ta. Ở Pháp, một ngành nghề nào hot hay không hot cũng chỉ có tối đa 5 trường phân bổ thế nào trong vòng 400 km, có ký túc xá đàng hoàng, để sinh viên có thể đến học với chi phí rất thấp. Còn ở ta, những môn học hot như tin học, kinh tế tài chính kế toán thì dạy tràn lan trên cả 100 đại học, thì làm sao chất lượng bảo đảm, do trình độ giảng viên rất kém, thêm lại hay chạy xô, không thời giờ nghiên cứu. Ngoài ra, không nên cho liên kết với các trường đại học nước ngoài, vì như vậy tự thân sẽ giảm đi mọi cố gắng làm cho đại học nội địa ngày càng tiến bộ hơn. Người ta cũng đã báo động, hiện có 21 trường đại học dõm ngoại quốc, phần lớn là đại học Mỹ, đang liên kết với đại học VN. Nghĩ cũng lạ !!!
Cuối cùng, một vấn đề rất tế nhị cần được đưa ra mỗ xẽ, không nên né tránh: đó là việc gởi sinh viên đi du học nước ngoài, mà báo chí mĩa mai gọi là "tị nạn giáo dục". Khi Thiện mỗ cho đăng một bài báo cũ về du học ở miền Nam trước 1975 trên blog của Thiện mỗ, thì một anh bạn Việt Kiều Mỹ, comment như sau: "Những gì bác viết cách đây 40 năm sao vẫn giống tình trạng như bây giờ - chỉ khác là mức độ trầm trọng hơn cả trăm lần. Theo thống kê mới nhất (nếu không nhớ lầm) thì VN hiện đứng thứ 6 có sinh viên du học tại Mỹ. SV VN hiện đang nuôi trường Mỹ vì phải trả học phí cao gấp mấy lần dân Mỹ... Do đó mới có hiện tượng khá nhiều trường đại học dỗm về VN chiêu sinh... Không biết ngoại tệ ở đâu mà người VN đi du học nhiều đến thế, trong khi ấy con em Mỹ muốn có tiền đi học đại học cũng chật vật. Rất nhiều đứa phải đi làm, hoặc đi lính một thời gian mới có tiền đi học... Một lần nữa cám ơn bác đã post lại những bài viết xưa để thế hệ chúng cháu học hỏi cách nhìn và suy tư của bậc lão thành." Báo chí đăng là hằng năm ta cho đi du học 100.000 sinh viên, với chi phí vào khoảng 3 tỷ đô. Số sinh viên thành tài về lại VN chỉ vào khoảng chưa tới 5%, nghĩa là 95.000 người thành tài đội nỏn ra đi. Hiện có 300.000 người thành tài đang tha phương cầu thực ở nước ngoài. Nói một cách ngắn gọn và đau lòng là "VN đang viện trợ chất xám" cho các nước giàu, như Mỹ chẵng hạn. Gần đây, có một tờ báo Mỹ đã viết là "sinh viên VN là cái mõ vàng đối với các đại học Mỹ". Bây giờ, bạn nên tìm hiểu thành phần xã hội của sinh viên du học, bạn sè rất ngạc nhiên. Ngoài ra, bạn thử xem 3 tỷ đô chi cho du học lấy từ đâu mà ra? Có phải là tiền bán nông sản, hải sản, v.v.. nghĩa là ngoại tệ do dân nghèo làm ra. Con cháu các người này không nằm trong thành phần du học sinh, có đúng không. Thế thì công bằng ở đâu? Thế mà người ta đang ra rã bảo là đang xây dựng một xã hội dân chũ, công bằng và văn minh.
Thôi, tới đây Thiện mỗ không muốn làm mất thời giờ của bà con cô bác, xin ngừng lại đây, mặc dù còn có nhiều điều muốn nói nữa.
DƯƠNG QUANG THIỆN - 29/05/2014
Thứ Tư, 25 tháng 4, 2018
Ông Hồ, ông Giáp, ông Kiệt, ,,,
26/4/2016: Trưa
ÔNG HỒ, ÔNG GIÁP, ÔNG KIỆT VÀ BÀ CHỦ TỊCH HUYỆN: AI GIỎI HƠN AI
Các cậu BFB chắc biết chuyện ông Giáp được cụ Hồ nhà ta phong cho hàm đại tướng trước khi đi dự hội nghị Fontainebleau, ở Pháp. Ông Giáp chưa qua một trường võ bị sĩ quan nào cả. Thế tại sao ông được lên tướng. Chẵng qua là ngồi trên bàn hội nghị, trước mắt tướng Giáp là một tướng Pháp ở trường võ bị Saint Cyr mà ra. Nếu ông Giáp không được giới thiệu là tướng, thì mất mặt biết mấy, câu đối đáp của ông Giáp sẽ không được coi trọng. Cho nên, Ông Hồ nhà ta, khôn thiệt là khôn.
Khi giải phóng đất nước xong, thì lấy ai làm quản lý. Từ trước đến giờ, chỉ chuyên môn đấm đá, có ai biết quản lý gì đâu. Việc tiếp tế gạo cho tp Sai gon (trước ăn toàn gạo viện trợ Mỹ) nay giao cho bà nhà quê ở rừng ra tên là bà Ba Thi. Thế mà bà ta không biết chi về kinh tế, nhưng may là làm được. Ông Võ V Kiệt, đi kháng chiến vào tuổi 17, biết chi về kinh tế mà vào quân quản tp Sai Gòn. Thế mà ông ta làm được. Ông Kiệt chả bao giờ kể chuyện. Và bản thân ông ta không dám kể chuyện. Bây giờ, OGT kể. Đơn giản là ông Kiệt lặng lẽ cho thành lập một nhóm chuyên gia tư vấn cho ông gồm toàn trí thức miền Nam còn ở lại. Nhóm tư vấn cho ông Kiệt cầm đầu bởi Nguyễn Xuân Oánh, cựu thống đốc ngân hàng QGVN. Cuối bảng là có tên OGT, chuyên viên điện toán. Tới giờ này OGT không biết ai đưa tên ông vào danh sách tư vấn cho Ông Kiệt. Tụi ông làm tư vấn không công cho ông Kiệt trong 2 năm trời. Chấm dứt bởi một bữa ăn tại khách sạn Majestic và một cú bắt tay. Thế thôi. Như vậy, ta thấy ông Kiệt biết bỏ đi cái tự tôn ta đây là kẽ chiến thắng, đi tìm những người tài ở phe cựu địch để biết cách xữ lý đất nước về mặt kinh tế, hành chánh mà ông Kiệt mù tịt.
Còn các vị CM khác thì sao? Họ là những người rất tự tôn: ta đây là kẽ chiến thắng nói như kiểu Huy Đức. Nên cách dùng tư vấn như kiểu ông Kiệt vừa kể trên thì họ không chịu làm đâu. Do đó, họ lý luận: muốn làm lãnh đạo trong tương lai thì phải có bằng tiến sĩ. TS giấy giỏ, TS giấy nhôm, TS giấy ni lông gì cũng được. Chĩ đạo này không được phổ biến cho dân chúng, nó cười cho. Thế là chỉ trong một thế hệ, tự nhiên vô số TS nhãy ra như nấm sau cơn mưa. Nói tóm lại, với cái lý luận: lãnh đạo CM giờ đây phải có bằng TS. Không có, không được.
Cách đây 20 năm, OGT có làm việc với một chị chủ tịch UBND Huyện, trong việc tin học hoá cải cách hành chánh huyện. Chị này vui tánh, cởi mở, rất bình dân. Một ngày nọ chị bảo: anh Thiện, ngày hôm nay tui là Tiển Sĩ. OGT ngạc nhiên hỏi TS gì. Chị bảo TS sữ học. OGT hỏi lại: thế chị là đồng nghiệp của ông Duong Trung Quốc. Chị trã lời: lãnh đạo trên bảo tuổi đang còn trẻ, muốn tiếp tục làm lãnh đạo thì phải có cái bằng TS. Bận rộn quá trời làm gì có thời giờ đi học. Phải nhờ thằng nhân viên kỹ sư đi học thế, lấy bằng thế. Như vậy, chuyện lấy bằng TS chắng qua là đối phó với NN mà thôi. Do đó, nếu ta thấy đại biểu quốc hội ta hiện 90% là TS, thì đúng là loại TS kiểu bà chủ tịch Huyện, của tp HCM, nên chả hãnh diện gì.
Nếu bây giờ, bạn đề nghị NN làm một Văn Miếu có bia Tiến Sĩ, thì chắc phải lên Trường Sơn kiếm một khoãng đất trống rỗng rộng như nghĩa địa Trường Sơn với những tấm bia hình cái mũ đăng khoa kiễu Mỹ, khắc vào tên vị TS. Bạn sẽ có một nghĩa địa 24.000 tiến sĩ, rất hoành tráng oai phong.
Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2018
AMAZONE VÀO VN LÀM GÌ?
(2) 11/03/2018 : Chiều
Khi sáng Ôn có viết đoạn cmt dưới đây:
" Hôm qua, chắc các bạn BFB đã biết chuyện một công ty Mỹ tên là Amazone sắp "đổ bộ vào Việt Nam". Nghe giật tít "đổ bộ vào Việt Nam" làm Ôn liên tưởng đến việc Mỹ đổ bộ Đà Nẵng cách đây 53 năm bắt đầu một cuộc chiến can thiệp đẫm máu. Người ta hỏi OGT Amazone và Mỹ đổ bộ là 2 sự kiện khác nhau làm gì có sự tương đồng? Hình như OGT có vần đề. Khi nào rãnh ông sẽ kễ chuyện cho nghe. Trong khi chờ đợi, các bạn BFB cũng thử tìm hiểu vấn đề xem sao."
Chiều nay, có chút rãnh rang, nên Ôn viết tiếp:
Chắc bạn đã biết tay CEO của công ty Amazon, mang tên Jeff Bezos, là tay tỹ phú đô la của Mỹ đứng đầu thế giới. Ông ta vừa vượt qua tay tỹ phú lâu năm Bill Gates, chủ hãng phần mềm Microsoft. Đặc điểm của tay Bezos là có cái đầu tròn như quả trứng gà và cái đầu trên là sói kinh khủng.
Sau 1975, Bill Gates và Jeff Bezos chưa phải là tỹ phú đô la. Chỉ từ năm 1982 khi máy vi tính ra đời thì Bill Gates bức phá đầu tiên là đại gia phần mềm, còn Bezos thì chỉ là tay bán hàng xén sách vở và những chi liên quan đến đồ điện tử gia dụng. Nghĩa là Amazon không có sản xuất gì cả Amazone chỉ lo phân phối sản phẩm của các nhà sản xuất khác. Nói tóm lại Bill Gates giàu lên nhờ bàn một sản phẩm tin học mà thiên ha đua nhau mua để dùng trong việc tin học hóa xí nghiệp, còn Bezos thì lo phân phối sản phẩm của các người khác, nghĩa là anh ta làm cái nghề mua đầu chợ bán cuối chợ như cha ông ta đã mô tả. Thế mà, bạn có bao giờ đặt câu hỏi: một thằng cha phân phối sản phẩn của người khác sao mà giàu nhanh kinh khủng.
Vài năm gần đây, đế chế của Bill Gates ngày càng cho thấy lần hồi xuống dốc vì phần mềm của CM 3.0 đã bão hòa. Trong khi ấy thì Amazone đang lung lạc ngành bán lẽ ở Mỹ như tại các hệ thống siêu thị Wal Mart hoặc Macy. Tại các tập đoàn này người ta đang đóng cữa và sa thãi nhân viên vào khoảng 50%: nghĩa là 50% siêu thị bị đóng cữa và 50% nhân viến bán hàng siêu thị bị cho nghĩ việc. Trong khi ấy, Amazone thay thế việc bán hàng bằng siêu thị bằng bán hàng qua mạng. Người mua mua hàng qua mạng, trả tiền qua mạng và hàng từ nhà sản xuất sẽ giao cho bạn bằng những xe ôm (uber hoặc grab), máy bay không người lái, giao trực tiếp cho khách hàng, hoặc những điểm giao-nhận không có nhân viên.
Nói tóm lại, cái nguyên lý hoạt động của Bezos là giảm đi thời gian mua hàng, thanh toán tiền và giao hàng tận tay. Như vậy giảm đi thời gian tiếp xúc giữa các đối tượng: khách hàng, nhà sản xuất, thanh toán, người giao hàng. Cái đặc điểm của Amazon là chuyễn việc giao hàng trực tiếp từ Amazone qua nhà sản xuất giảm đi gánh nặng tồn kho, việc thanh toán giờ đây không qua ngân hàng truyền thống mà qua một hệ thống giống như PayPal nhưng của riêng Amazon, hoàn toàn bằng tin học. Do đó, các ngân hàng truyền thống ở Mỹ đang mất đi 50% nghiệp vụ qua tay Amazone.
Chưa hết. Chắc bạn nghe nói tới logistic, mà Ôn gọi là hậu cần. Trong ngành phân phối, thì công đoạn giao hàng từ nhà máy lên cãng biễn, lên tàu thũy chuyên chở, cần đến bến cãng, tàu hàng, kho hàng trung gian, xe container, v..v... Tất cả đống hổn độn này được gọi là logistics. Amazone tính ra rằng ở Mỹ doanh thu logistic hằng năm vào khoảng 700 tỹ đô, và lợi nhuận 15% rất cao nghĩa là có thể lãi 105 tỷ đô mỗi năm. Amazone tự hỏi sao mình không nhảy vào. Trong vài năm tới, Amazone dự định mua lại tất cả các bến cãng, đội tàu và hệ thống logistic cỗ lỗ xĩ của Mỹ để biến thành một hệ thống logistic hoàn toàn được tin học hóa. Khi nhãy vào VN, chắc là Amazone cũng có ý đồ gì đó đối với logistic VN trong tình hình xuất hàng hóa nông nghiệp VN ngày căng trong những năm tới. Làm sao biết được.
Cuối cùng, bạn nên biết Amazone có một đội ngũ tin học vào khoảng 40.000 người. Bốn vạn người. Họ chỉ viết chương trình cho Amazone dùng không bán ra ngoài. Do đó, một đối thủ cùa Amazone khó lòng tìm ra nhân tài viết cho mình chương trình để đối nghịch với Amazone. Thì dụ trong giới ngân hàng không lấy đâu lập trình viên để viết phần mềm cho ngân hàng để đối nghịch với Amazone.
Để kết luận, việc Amazone vào VN không dính dáng chi với việc quân đội Mỹ can thiệp vào cuộc chiến ở VN vào tháng 7/1965.
Dương Quang Thiện 11/03/2018
Thứ Hai, 19 tháng 2, 2018
KHÔNG BIẾT NÓI CHI THÌ XIN NÓI DÓC ĐẦU NĂM CHO VUI MÀ...
19/2/2018: Chiều mồng 4 Tết Mậu tuất.
KHÔNG BIẾT NÓI CHI THÌ XIN NÓI DÓC ĐẦU NĂM CHO VUI MÀ...
Người ta đang nói nhiều đến một cuộc cách mạng kỹ nghệ thứ tư (CM 4.0) mà nhân loại đang tiến tới, trong khi cuộc CM 3.0 chưa bao trùm xong hết thế giới. VN ta chưa xong CM 3.0, nhưng các ông lớn NN VN lại thích nói khởi nghiệp theo CM 4.0. Người ta còn gọi CM 4.0 là CM kỹ thuật số, nghĩa là phần lớn sữ dụng chủ yếu các phần mềm tin học. Theo CM 4.0 bao gồm: máy in 3D, AI (trí tuệ nhân tạo - artificial intelligence) robotic (người máy), IoT (internet of things, các sự vật nối kết mạng), tự động hóa, biotech (kỹ thuật sinh học), fintech (financial technics, kỹ thuật tài chính), blockchain (chuỗi khối) v.v... Danh sách sẽ còn dài thêm theo thời gian.
Tốc độ: là tiền tệ kinh doanh trong thời đại mới
Kinh doanh ngày nay đã phát hiện ra những lối đi mới: đó là việc định lại giá trị của thông tin, nghĩa là thông tin trước đây người ta ít để ý đến, nhưng bây giờ thông tin phải được xem như là một tài sản quí giá của xí nghiệp và phải được đưa vào bảng cân số kế toán. Ngoài ra, người ta phải tối ưu hóa những qui trình (process), bắng cách giá hóa các dữ liệu, cũng như việc kết nối. Người ta bảo: loại tiền tệ mới trong kinh doanh là tốc độ, và tương lai thuộc về ai chạy nhanh. Người ta bảo tương lai thuộc những doanh nghiệp nào lanh lẹ (agile), và biết hợp tác. Chìa khoá thành công nằm trong viêc hợp tác, mà công nghệ mới khuyến khích. Như vậy sẽ kéo theo một cuộc CM trong quản trị, mà người ta chưa định hình xong...
Bây giờ...
Nhân dịp Tết người ta chúc bạn không biết bao nhiêu là điều, nhưng chung qui thì bao giờ bạn cũng phãi hiểu ngầm là người ta chúc năm mới bạn kiếm ra thật nhiều tiền. NHIỀU TIỀN !!! NHIỀU TIỀN !!!
Chắc bà con biết công ty Amazon, của Mỹ, với thằng cha CEO đầu sói tên là Jeff Bezos. Nó là thằng đại gia giàu nhất thế giới, vừa qua mặt tay Bill Gate của Microsoft. Gia sản nó lên 125 tỷ đô, trong khi Phạm Nhật Vượng nhà ta chỉ mới 5 tỷ đô.
Chắc bạn cũng đã biết là Bill Gates làm ra phần mềm tin học (Windows, MS Office, ...) mà giàu lên rất nhanh. Còn Jeff Bezos lúc đầu rất quèn bán qua mạng những sách vở, văn phòng phẩm và đồ ca nhạc. Nghĩa là Amazone không làm ra sản phẩm và chỉ làm phần việc phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng, nghĩa là một tay đầu nậu trung gian giữa nhà sản xuất và dân tiêu thụ. Một thằng làm ra sản phẩm tin học để bán ra, còn thằng kia ứng dụng tin học trong việc phân phối sản phẩm. Như vậy mẫu số chung giữa 2 đại gia là tin học. Như vậy, triết lý rút ra là trong tương lai mà bạn muốn làm giàu nhanh và vững chắc thì phải tìm cách ứng dụng tin học, một cách triệt để và một cách khôn ngoan. OK.
Trước tiên, cách làm giàu kiểu Microsoft, sau 40 năm, theo OGT là đang trong vòng lỗi thời. Phần lớn các cơ sở kinh tế hành chánh trên thế giới sữ dùng các phần mềm của Microsoft và tương đương nay cũng đã bão hoà, cho nên OGT không ngạc nhiên khi Jeff Bezos qua mặt Bill Gates không bóp còi. Tài sản giá hoá của Microsoft đang giảm lần so với các công ty khác. Do đó, bạn không nên làm giàu theo kiểu Bill Gates.
Còn Amazon làm giàu bằng cách làm thế nào sản phẩm của người ta đến tay người tiêu thụ một cách nhanh nhất, an toàn nhất và giá thành rẽ. Các kho hàng của Amazon đều do robot vận hành, cho nên rut ngắn thời gian tập kết hàng và giao hàng. Ngoài ra, Amazon còn chú tâm đến thời gian thanh toán giữa khách hàng và Amazon, hay giữa Amazon và nhà cung cấp sản phẫm. Nghĩa là kế toán sẽ được tin học hóa tối đa thông qua smartphone.
Amazone đang làm lung lay hệ thống siêu thị Wal Mart bên Mỹ, hệ thống logistic tại các cáng biển của Mỹ cũng đang trong tầm nhắm của Amazone.
Amazone đang làm lung lay hệ thống siêu thị Wal Mart bên Mỹ, hệ thống logistic tại các cáng biển của Mỹ cũng đang trong tầm nhắm của Amazone.
Như vậy, nếu bạn muốn làm giàu thì đơn giản bạn quan sát những chỗ nào cần thu hẹp thời gian, không gian, các thông tin được thu thập thế nào giảm đi thời gian chết... Từ đó bạn tạo ra một giá trị mời...
Thôi, ông chém gió tới đây là đủ, đến phiên bạn thực hành nếu thấy hứng thú...
Dương Quang Thiện 19/02/2018
Thứ Bảy, 17 tháng 2, 2018
TẾT HẾT RỒI BÀ CON ƠI !!! SUY NGHĨ LUNG TUNG LANG TANG
TẾT HẾT RỒI BÀ CON ƠI !!! SUY NGHĨ LUNG TUNG LANG TANG
OGT: cu DAG dậy chưa?
DAG: dạ con chào Ôn buỗi sáng, con dậy lâu rồi, khi chuông nhà thờ Ba
Chuông đổ, đánh thức bổn đạo đi lễ sáng. Sáng nay, Ôn có chuyện chi kể
cho bà con thiên hạ nghe không?
OGT: chã có chuyện chi to tát để mà kễ. Hình như nguồn suối chuyện cũ
chuyện mới đã bị cạn kiệt.
DAG: dạ, chuyện chi cũng vậy: khai thác nhiều quá, sinh ra cạn kiệt
giống như trong đánh cá vậy. Thêm lại bây giờ, chi cũng đổ tội cho El
Nino, cho biến đổi khí hậu, vân vân và vân vân.
OGT: kể chuyện to không có thì mình kể chuyện nhỏ, không chuyện nhỏ
thì chuyện bé tí. Ôn thấy trên FB hình như người chơi đầu óc họ trống
rỗng thế nào, nên họ kể toàn những chuyện bé tí teo... Rồi cuối cùng
đi chia sẽ những bài báo ai đó viết, cho xôm tụ cái "tường" nhà mình,
kèm theo vài cái hình cho thấy họp bạn, bàn nhậu ê hề món ăn (vậy mà
cứ than nghèo, than đói, than không có tự do dân chủ).
DAG: sao mà sáng nay ôn nổi hứng chữi người ta thế?
OGT: ôn chữi gì đâu. Ôn nói chuyện đàng hoàng. Đây nhé: khi ông Các
Mác (Karl Marx) bảo TB là bóc lột thì ai cũng giãy nãy, nhưng cuối
cùng thì phãi đồng tình phía dân tình, còn phía TB bảo ừ thì cho là
đúng. Ta bóc lột đó. Nhưng làm gi ta đây.
DAG: vâng, tụi bây cần việc làm. Không làm thì đói, lấy tiền đâu mà mua gạo.
OGT: cuối cùng thì các cuộc biễu tình của giới lao động chống giới chủ
nhân cũng phãi đi đến những nhượng bộ mỗi bên một ít, vì nếu căng quá
thì chã có ai thắng, mà hai bên đều thua.
DAG: à bây giờ con mới hiểu: những nhượng bộ của phe TB là những tiện
nghi vật chất, những phúc lợi xã hội (y tế miễn phí, bảo hiễm xã hội,
giáo dục miễn phí..) mà dân các nước TB hiện có là do kết quả của
những biễu tình trong quá khứ.
OGT: đúng thế.
DAG: nhưng ở VN thì ta cũng có BHYT, có giáo dục phần nào miễn phí, có
quỹ hưu như bên TB mà khỏi biễu tình đối đầu với NN.
OGT: dân trẽ trâu VN thì cứ tưởng phe TB cấp miễn phí nhiều hơn phe CS
nên mới đòi thế... Nhưng thật ra, nhân dân lao động các nước TB phãi
tranh đấu gian khổ mới có được những cái ngày hôm nay. Nhưng có cái mà
trẽ trâu VN không biết...
DAG: chuyện gì thế Ôn?
OGT: chuyện là như thế này: sau mỗi lần TB nhượng bộ nhân dân lao
động, thì giới chũ nhân tìm cách nghiên cứu phát triển những công cụ
sãn xuất, những phương pháp quản lý làm thế nào : (1) thay thế con
người bởi robot; (2) tin học hoá việc quãn lý thông tin. Nghĩa là làm
thế nào thay thế công việc của người bởi những con người máy, bởi máy
tính, như vậy giãm đi những biểu tình đòi hỏi của nhân viên cổ xanh
cũng như cổ trắng, và tăng năng suất tăng lợi nhuận.
DAG: À ra là thế. Do đó, mình cứ tưởng bọn TB đem lại ấm no hạnh phúc
cho nhân dân là chúng muốn thế, để cho bọn CS thèm rõ dãi.
OGT: dân trẽ trâu VN hiểu lầm là ở chỗ ấy. Ngoài ra, bên CS cũng sai
lầm ở nhiều điểm mà người ta không chịu phân tích.
DAG: sai lầm gì thế Ôn. Bên CS họ cho là họ không bao giờ sai lầm mà.
OGT: ôn lấy một thí du: bên ta miền Bắc có cho ra đời hợp tác xã (HTX)
và nông trường, bắt chước ý tưởng kolkoze của LX. Miền Nam thời VNCH
không có những tổ chức ấy. Hồi ông du học ở Pháp, ông có tìm hiểu HTX
nông nghiệp ở Pháp và ở Hà Lan, và kitbutz của Israel. Xem ra HTX,
Nông trường, kolkoze hay kitbutz trong nông nghiệp chẵng qua là hình
thức sản xuất theo giây chuyền Taylor trong công nghiệp sản xuất xe
hơi, thực phẫm, dược phẫm v.v.. Bên TB người ta chú trọng năng xuất
của từng khâu sản xuất. Còn bên CS thì sữ dụng vô tội vạ số cán bộ
quản lý kế hoạch, cho nên cuối vụ thu hoạch thì cái dàn quản lý nó
chia ăn gần sạch trơn thành quả vụ mùa, nông dân HTX, nông trường
không còn chi ăn.
DAG: do đó nông dân không thiết tha với HTX và nông trường.
18/02/2018
TIN HỌC HÓA XÍ NGHIỆP VN
TP HCM ngày 27/10/2013
LÀM THẾ NÀO TIN HỌC HOÁ TOÀN BỘ CÁC XÍ NGHIỆP VIỆT NAM (phần 1)
Trước tiên, tôi muốn trình bày lại mục tiêu của vấn đề mà tôi mong muốn giúp giãi quyết cho đất nước và đã mời anh chị em tham gia đóng góp ý kiến.
Hiện giờ, theo tính toán của tôi dựa trên các báo chí, VN có vào khoảng 500.000 xí nghiệp & cơ quan hành chính nhà nước, đã được nối mạng và được trang bị phần cứng đầy đủ, nhưng lại không có một hệ thống thông tin (HTTT) ra hồn giúp quãn lý xí nghiệp. HTTT phần lớn không được xây dựng theo mô hình Enterprise Resource Planning (ERP) - hoạch định nguồn lực doanh nghiệp, như ở các nước tiên tiến. Vì sao nông nỗi thế này?.
Theo các nước Âu Mỹ, tại các xí nghiệp nào muốn tin học hoá thì bắt buộc phãi có một bộ phận trung tâm điện toán lo việc này, và ngườii đứng đầu của cơ quan này phãi có chức vụ phó tổng giám đốc hoặc phó giám đốc, vì ngày nay người ta quan niệm thông tin của xí nghiệp là một tài sản quý giá, phãi được khai thác một cách chính xác, có hiệu quả. Mọi quyết định quản lý được lấy ra sẽ xuất phát từ HTTT này. Chính điều này, các giám đốc công ty tư nhân cũng như lãnh đạo các cơ quan hành chính nhà nước VN chưa hề ý thức, do đó anh em IT thường than phiền là mình không được tôn trọng, nếu không nói là không được trọng vọng như ở Âu Mỹ.
Trước tiên, tôi muốn trình bày lại mục tiêu của vấn đề mà tôi mong muốn giúp giãi quyết cho đất nước và đã mời anh chị em tham gia đóng góp ý kiến.
Hiện giờ, theo tính toán của tôi dựa trên các báo chí, VN có vào khoảng 500.000 xí nghiệp & cơ quan hành chính nhà nước, đã được nối mạng và được trang bị phần cứng đầy đủ, nhưng lại không có một hệ thống thông tin (HTTT) ra hồn giúp quãn lý xí nghiệp. HTTT phần lớn không được xây dựng theo mô hình Enterprise Resource Planning (ERP) - hoạch định nguồn lực doanh nghiệp, như ở các nước tiên tiến. Vì sao nông nỗi thế này?.
Theo các nước Âu Mỹ, tại các xí nghiệp nào muốn tin học hoá thì bắt buộc phãi có một bộ phận trung tâm điện toán lo việc này, và ngườii đứng đầu của cơ quan này phãi có chức vụ phó tổng giám đốc hoặc phó giám đốc, vì ngày nay người ta quan niệm thông tin của xí nghiệp là một tài sản quý giá, phãi được khai thác một cách chính xác, có hiệu quả. Mọi quyết định quản lý được lấy ra sẽ xuất phát từ HTTT này. Chính điều này, các giám đốc công ty tư nhân cũng như lãnh đạo các cơ quan hành chính nhà nước VN chưa hề ý thức, do đó anh em IT thường than phiền là mình không được tôn trọng, nếu không nói là không được trọng vọng như ở Âu Mỹ.
Hiện giờ, tại các xi nghiệp tiên tiến tại các nước phát triển, người ta sử dụng mô hình ERP để tập trung xây dựng căn cứ dữ liệu (database) cho một HTTT quãn lý. Mô hình ERP, gồm vào khoảng 7 module cốt lõi: (1) Order Processing & Sales (OPS) - xữ lý hoá đơn & bán hàng. Module OPS này lo việc các đơn đặt hàng từ khách hàng sẽ được xữ lý thành những hoá đơn, những phiếu giao hàng, và những báo cáo bán hàng cuối kỳ; (2) Inventory Control (IC) - Tồn kho Sản Phẩm/Vật tư. Modul IC này lo ghi nhận các giao dịch xuất nhập tồn kho, tính giá trị từng giao dịch xuất kho để tính ra doanh thu, cũng như tính ra các điểm ROP và EOQ để đặt mua hàng tránh cháy hàng; (3) Account Receivable (AR) - công nợ khách hàng. Modul AR này cho biết chi tiết nợ nần của khách hàng đối với công ty xí nghiệp. Modul AR này luôn luôn liên hệ tự động với modul OPS, và modul IC; (4) Fixed Assets (FA) - tài sản cố định. Modul FA này giúp kiểm kê thường xuyên các tài sản cố định: đất đai, nhà cữa, máy móc, thiết bị, tài sản văn phòng. Đồng thời modul FA này tính tiền khấu hao hằng tháng theo loại tài sản để đưa vào giá thành sản phẩm; (5) Account Payable (AP) - công nợ nhà cung cấp. Phòng cung tiêu sử dụng modul AP này phối hợp với modul IC và Modul FA để cho ra công nợ nhà cung cấp (tài sản cố định, vật tư, sản phẩm) mà quỹ tiền mặt & ngân hàng sẽ dùng để chuẫn bị tiền phãi thanh toán cho nhà cung cấp; (6) Cash & Bank (CBK) - Tiền Mặt & Ngân Hàng. Modul CBK này theo dõi tiền mặt và tiền tại những tài khoản khác nhau ở ngân hàng. Modul CBK thường xuyên liên hệ tự động với các modul OPS, IC, AR, AP liên quan đến tiền bạc, chuyễn ngân; (7) Payroll (PAR) - Lao Động Tiền Lương. Modul PAR lo tính tiền lương cho nhân viên, kể cả các phí bảo hiểm xã hội, thuế thu nhập cá nhân. Từ tiền lương này, ta có thể tính ra giá thành sản phẩm; (8) Accounting (ACT) - kế toán. Modul ACT là modul tổng hợp các giao dịch kế toán đến từ các modul công năng khác. Modul ACT này sẽ tự động tạo ra các báo cáo tài chính nhanh hơn và chính xác. Ở trên, chúng tôi bảo rằng ERP có cả thảy 7 modul cốt lõi, nhưng ở đây chúng tôi lại liệt kê ra đến 8 modul. Thật ra, modul AR - công nợ khách hàng và modul AP - công nợ nhà cung cấp, có thể phối hợp lại thành một modul, vì cách xữ lý giống nhau, chỉ là khác chiều.
Nói tóm lại, về mặt quãn lý xí nghiệp, tại các nước tiên tiến, người ta thống nhất mô hình ERP, với một database tập trung cho toàn xí nghiệp. Các máy tính được nổi mạng. Các phòng ban làm đúng công năng bình thường, thường nhật của mình qua máy tính. Khi xong một giao dịch đặc thù của công năng của minh, thì một số giao dịch phát sinh (by product transaction) khác sẽ hiện lên tự động nhật tu các modul khác, mà trước đây các kế toán viên khác nhau trong xí nghiệp phãi lấy bằng tay, với những sai sót kèm theo. Thí dụ, khi bạn làm xong một hoá đơn, thì một số giao dịch tự động nhật tu các mặt hàng được đặt mua trên modul tồn kho IC, một giao dịch khác nhật tu công nợ khách hàng trên modul AR theo số tiền hoá đơn, v.v..
Nhìn chung thì HTTT viết theo mô hình ERP rất phức tạp khó viết. Tuy nhiên, trong thị trường phần mềm, cũng có nhiều công ty cho ra phần mềm ERP, nhưng rất mắc. Mỗi modul vào khoảng 300.000 đô (= 6 tì đồng). Phần cốt lõi (core), gồm 7 modul, cũng phãi tốn vào khoảng 40 tì đồng. Việc cài đặt và đưa vào hoạt động không dễ dàng chút nào. Nói tóm lại, phãi là đại gia, như Vinamilk, hoặc Sabeco mới kham nổi, mà chưa chắc thành công vì sự phức tạp của phần mềm. Ngoài ra, trên thị trường phần mềm. Cũng có những phần mềm mỡ, gọi là openERP, giá rẽ hơn, nhưng phãi nhờ một công ty trung gian làm giùm việc customize, nghïa là thích nghi phần mềm với tình trạng của khách hàng.
Khi sử dụng các phần mềm ERP của các hãng Oracle, SAP, Microsoft (Dynamics), hoặc của PeopleSoft, sự phức tạp của phần mềm không ai giãi thích cho bạn. Nếu có chuyên viên công ty phần mềm đến tư vấn giãi thích, thì khi họ bõ đi, những giãi thích trước kia của chuyên viên đối với bạn giống như nước đổ đầu vịt. Gan ruột phèo phổi của phần mềm được viết thế nào trong nội tạng phần mềm, bạn không bao giờ được biết. Bạn có lục tìm sách về ERP trên Amazon.com, trên thế giới, kể cả ở đại học, bạn cũng không thấy đâu cả. Lý do rất đơn giản là các kỹ sư tin học, lập trình viên làm việc cho các công ty phần mềm ERP kể trên họ bị ràng buộc bởi một điều khoản là những gì họ làm là thuộc quyền sở hữu trí tuệ của công ty. Bạn không cỏ quyền phỗ biến chi tiết, không có quyền viết sách mô tả chi tiết về ERP v.v..
Theo nguyên tắc, nếu có một trung tâm điện toán lo việc xữ lý các dữ liệu của cơ quan/xí nghiệp, thì nhân viên sẽ gồm nhiều thành phần, kể từ dưới lên theo trình độ chuyên môn là: lập trình viên (programmer), phân tích viên (analyst), phát triển viên (developper), kiến trúc sư (architect). Trong các sách tôi viết về C# và về phân tích thiết kế HTTT, tôi thường so sánh ngành tin học cũng giống như ngành xây dựng, nhân viên ngành này thường gồm từ dưới lên: thợ hồ-thợ nề-thợ điện, kỹ sư xây dựng, công trình sư, và cuối cùng là kiến trúc sư.
Các đại học VN từ 1980 đến nay đào tạo kỹ sư tin học chỉ biết lập trình một ngôn ngữ lạc hậu nào đó, và "nghe nói sơ sơ" về phân tích (nghĩa là chưa bao giờ thực hành, vì số tiết dành cho phân tích rất là nhỏ nhoi so với số tiết của môn triết lý Mác Lê & tư tưởng Hồ Chí Minh, học viên học giống kiểu cưỡi ngựa xem hoa). Các cơ sở đào tạo tin học tư nhân, như CNIT, APTECH, FPT, .. cũng cho ra loại người như thế, nghĩa là tương đương với thợ hồ-thợ nề-thợ điện bên xây dựng. Với một đội ngũ như thế, thì làm sao có thể xây dựng HTTT quản lý đúng theo ý nghĩa của nó. Với một anh thợ hồ thợ nề thì giỏi lắm bạn cũng chỉ có thể xây một cái chòi, một cái nhà cấp 4, làm gì mà mơ xây dựng được một toà nhà chung cư cao cấp hiện đại. Do đó, không thể trách được các lãnh đạo VN là không tin tưởng tay nghề của các kỹ sư tin học được đào tạo ở VN. Bạn cứ xem lại việc Intel phãi trắc nghiệm bao nhiêu ngàn kỹ sư tin học VN để chỉ lấy được một hai chục mống, rồi còn phãi gởi ra ngoại quốc đào tạo lại, sau đó mới mong sử dụng được. Intel họ có tiền, họ mới làm chuyện ấy, chứ xí nghiệp VN thì làm gì có tiền để làm chuyện đãi cát tìm vàng. Nói một cách thô tục, là kỹ sư tin học (KSTH) được đào tạo tại VN là không xài được. Sản phẩm hoàn tất (end product) KSTH đầy khiếm khuyết. Có một bài báo than phiền là lương trã cho IT rẽ như bèo, và từ 3 năm nay không ai hăm hở đăng ký tuyển sinh vào ngành tin học. Do đó, dù lãnh đạo giáo dục VN có dự trù trong 5 năm tới sẽ đào tạo ra 1 triệu kỹ sư tin học, thì tình trạng 500.000 cơ quan/xí nghiệp ở VN đói HTTT quản lý cũng sẽ không giãi quyết được, vì sản phẩm KSTH xài không được. Tôi có cãm tưởng lãnh đạo ngành giáo dục ở VN không biết điều này, hoặc có biết nhưng không bận tâm.
Như đã nói trên, ở các nước phát triển, trung tâm điện toán làm nồng cốt, thường được gọi là lực lượng in-house, gồm 4 thành phần: lập trình viên, phân tích viên, triển khai viên và kiến trúc sư tin học. Lập trình viên khi mới ra trường vào chức vụ này sau 3-4 năm kinh nghiệm sẽ lên phân tích viên. Và phân tích viên cũng thế, bò lần lên triển khai viên. Khi bạn mới vào nghề lập trình viên thì bao giờ bạn cũng được cặp kè chỉ dẫn bởi một phân tích viên, còn phân tích viên được cặp kè với triển khai viên. Do đó, một HTTT quãn lý, sau khi được phân tích rồi được thiết kế, và được triễn khai lần lượt sẽ qua tay 4 loại người kể trên, được phân công rõ ràng. Còn ở VN, thì KSTH một thân một mình, không ai ở trên kèm cặp, chã biết xoay xở ra sao, giống như gà mắc tóc. Nếu bạn vào các diễn đàn tin học, thì bạn sẽ đọc những lời kêu cứu như sau: các bác ơi, công ty em giao cho em viết phần mềm tồn kho vật tư nguyên liệu. Em chã biết viết sao đây. Bác nào giúp em với. Ông cậu này tưởng viết phần mềm tồn kho là chỉ cần vài câu tư vấn là xong ngay. Nói tóm lại, KSTH mới ra trường, may mắn được xí nghiệp, thì bao giờ cũng đơn thương độc mã, không biết kêu với ai. Rốt cuộc chã làm gì được, chỉ đem lại sự thất vọng cho người tuyển mình vào làm.
Bây giờ, bạn xem lại ở VN, người ta làm thế nào. Các giám đốc VN họ nghĩ rằng họ chỉ cần bõ tiền ra mua mấy cái máy vi tính, cho nối mạng, rồi cài vài cái phần mềm Word, Excel, và Foxpro thế là xong, rồi thuê một cậu kỹ sư tin học nào đó (có thể là loại COCC) bảo nó viết một ứng dụng là a lê hấp chạy xong, giống như mua một chiếc xe hơi de luxe, thuê một tên tài xế, thế là rồi việc. Phần lớn các giám đốc cơ quan/xí nghiệp nghĩ đơn giãn như thế. Ngoài ra, ở đây, người ta nghỉ rằng máy tính xữ lý dữ liệu kế toán nhanh và chính xác. Đúng thế, nếu ta nhập và kiểm tra dữ liệu đầu vào một cách chính xác, thì các báo cáo tổng hợp đi sau sẽ chính xác và nhanh chóng. Nhưng khổ một nỗi là ở đại học tin học, anh/chị kỹ sư tin học không biết chi về kế toán, mù tịt về tồn kho vật tư, về công nợ khách hàng/nhà cung cấp, về khấu hao tài sản cố định, về lao động tiền lương, về xữ lý hoá đơn, khách hàng, về qũy tiền mặt và ngân hàng, về SCM, về HR, về CRM, về... ERP. Nếu các thầy dạy tin học ở trường không biết những điều vừa kể trên thì làm sao học trò biết được. Do đó, lỗi là ở bộ GDDT đã cấu trúc nội dung môn học chã ra thể thống gì cả, chứ không phãi lỗi tại các thầy. Trong thực tế, vào cuối năm 1976, một phái đoàn các nhà toán học cầm đầu bởi nhà toán học Phan Đình Diệu, vào Sai Gon đến gặp tôi suốt một tuần lễ, khi tôi đang là trưởng phòng điện toán của công ty Rượu Bia (trước là công ty BGI của Pháp, nay là Sabeco). Vì lúc ấy, người miền Nam cho tôi là "trùm điện toán", nên người ta đến gặp tôi xin ý kiến về tin học. Tôi đã chĩ dẫn tĩ mĩ đường đi nước bước. Nhưng, vì cho mình là "bên thắng cuộc", nên mang tiếng là nhà khoa học, họ đã bỏ qua những lời khuyên của tôi, thuộc bên thua cuộc. Kết quả là họ cho ra một chương trình đào tạo không ra ngô ra khoai. Ta tự làm mất đi 20 năm (+ thêm 20 năm bị Mỹ cấm vận) để cho ra những "ổ bánh mì" KSTH vô dụng, và ta sẽ tiếp tục làm như thế. Vừa rồi ông Nguyễn Thiện Nhân, trong một phát biểu, đã xác nhận ít nhiều tình trạng này, khi cho rằng không cỏ một HTTT nào ra hồn vì chưa có công trình sư. Thật ra ông muốn nỏi lớp người phân tích viên + triển khai viên + kiến trúc sư tin học, như tôi đã kể trên.
Nói tóm lại, thì với hiện tình đội ngũ nhân viên IT như thế này, thì trong một thời gian ngắn, không tài nào tin học hoá đươc 500.000 xí nghiệp/cơ quan đang đói HTTT quãn lý. Có chờ một triệu KSTH trong 5 năm tới cũng không thay đổi gì được tình hình. Do đó, người ta mới nghĩ ra một cách là dùng outsourcing hoặc dùng software as service (SaS).
Outsourcing là gì thế? Nghĩa là nguồn lực dùng tin học hoá lấy từ ngoài xí nghiệp/cơ quan đưa vào. Người ta outsourcing như thế này : xí nghiệp có một đội ngũ IT in-house đã đủ việc. Bây giờ thình lình, có một ứng dụng cũ muốn được cãi tiến, hoặc một ứng dụng mới chưa từng có trước đây muốn được đưa vào. Nhưng đội ngủ IT in-house không thể đãm đang công việc mới. Do đó, xí nghiệp kiếm một công ty viết phần mềm X ký hợp đồng viết ứng dụng. Công ty X lo mọi việc từ đầu tới cuối, nghĩa là phân tích, thiết kế, triển khai, v.v.. Đây được xem như là một ứng dụng chìa khoá trao tay. Để tiết kiệm chi phí lập trình rất mắc ở Mỹ, công ty X ký hợp đồng outsourcing với một công ty Y ở VN, lo việc lập trình mà thôi. Như vậy, việc outsourcing có đến 2 cấp. Cấp 1 từ công ty Mỹ với công ty X, cấp 2 giữa công ty X ở Mỹ với cộng ty Y ở VN. Nói tóm lại giãi pháp outsourcing chỉ là tạm thời giãi quyết "nút thắt cổ chai" của phòng IT. Tuy nhiên, phòng IT in-house phãi cỏ người biết phân tích thiết kế và triển khai thì mới lợi dụng được tính tiện ich của outsourcing. Còn ở VN ta, thì thế nào? Tôi chưa nghe thấy xí nghiệp VN nào làm việc này.
Cuối cùng, có một giãi pháp tiên tiến hơn nếu bạn có kết nối với Internet. Đó là giãi pháp SaS + cloud progranmming. SaS tắt của cụm từ Software as Service, nghĩa là một phần mềm được cung cấp cho bạn như là một dịch vụ. Bạn không mua đứt bán đoạn hoặc trã bản quyền rắc rối. Bạn dùng phần mềm qua Internet, đơn vị tính là giao dịch, xài bao nhiêu giao dịch thì trã bấy nhiêu tiền. Không xài, không trã. Còn cloud programming là lập trình theo đám mây, nghĩa dữ liệu của bạn không còn nằm trong server của bạn mà được ký thác đâu đó, xê dịch liên tục giống như mây trời. Nghĩa là giờ đây bạn không còn cài đặt server (do đó không còn hiện diện đội ngũ quãn trị mạng, không còn lo vi rut, hacker v.v..) mà dữ liệu giao cho ai đó nhờ giữ hộ. Bạn chĩ trã tiền theo dịch vụ phần mềm bạn thuê sữ dụng. Ở VN, cũng bắt đầu chớm nở loại hình dịch vụ SaS này, ở Bình Dương thì phãi. Theo chúng tôi, đây là một giãi pháp cho tương lai. Thời gian sẽ trã lời.
Tóm lại, ta có thể rút ra những điều ta cần để ý đến khi giãi quyết vấn đề trong phần 2 kế tiếp:
1. Vẫn còn đó 500.000 xí nghiệp/cơ quan chưa được tin học hoá trong một thời gian ngắn vào khoảng từ 2 đến 3 năm phãi cho xong.
2. Đội ngũ IT được đào tạo trong thời gian qua cũng như trong những năm tới không thể xài được nếu tiếp tục sử dụng theo truyền thống. Một số IT đã bỏ nghề quay ngoắt qua một nghề khác, một số lang bang không làm gì cã, một số đầu quân vào những công ty outsourcing (như công ty TMA chẵng hạn) viết chương trình cho nước ngoài, số còn lại vất vưởng trong các công ty không làm đươjc gì ra trò. Làm sao cãi tạo loại IT này.
3. Chiều hướng tới là sử dụng mô hình ERP để tin học hoá các xí nghiệp mà khỏi qua các công ty ERP đại gia như Oracle, SAP, PeopleSoft hoặc Microsoft. Làm thế nào tạo những modul, dạy cho khách hàng hiểu ý nghĩa từng modul, rồi tự học lập trình từng modul cho tới khi chạy. Làm sao đào tạo những người trong công ty thành những lâp trình viên, phân tích viên, triễn khai viên, và kiến trúc sư, không theo một phương thức truyền thống.
Tới đây, xem như bạn đã biết qua mặt mũi thế nào của vấn đề mà ta mong muốn giãi quyết.
LÀM THẾ NÀO TIN HỌC HOÁ TOÀN BỘ CÁC XÍ NGHIỆP VIỆT NAM (phần 2)
Trong phần 1 đi trước, ta đã rút ra những điều ta cần để ý đến, khi giãi quyết vấn đề trong phần 2 này. Tôi xin liệt kê lại những kết luận rút ra, để từ đó suy ra những giãi pháp có thể có được:
1. Vẫn còn đó 500.000 xí nghiệp/cơ quan chưa được tin học hoá và trong một thời gian ngắn vào khoảng từ 2 đến 3 năm ta phãi làm thế nào tin học hoá cho xong. Nghe nói như thế, rất nhiều người sẽ cho là điên, chẵng khác nào bà Nữ Oa đội đá vá trời.
2. Đội ngũ IT được đào tạo trong thời gian qua cũng như trong những năm tới không thể xài được nếu tiếp tục sử dụng theo như từ trước đến nay. Một số IT đã bỏ nghề quay ngoắt 180 qua một nghề khác, một số đang lang bang không làm gì cã, một số đầu quân vào những công ty outsourcing (như công ty TMA chẵng hạn) viết phần mềm gia công cho nước ngoài, số còn lại vất vưởng trong các công ty không làm được gì ra trò, than thân trách phận. Tuy nhiên cũng có một số rất ít cố gắng bám trụ, tự mình trau dồi nghiệp vụ, cũng làm được chút gì cho xí nghiệp, nhưng không là gì cã. Chúng tôi không quan tâm đến những công ty "đại gia" lắm của nhiều tiền dùng phần mềm ERP của các công ty phần mềm nước ngoài như Oracle, SAP, hoặc Dynamics của Microsoft. Nhưng làm sao cãi tạo loại chuyên viên IT lông bông vất vưỡng trong 500.000 đói HTTT quãn lý này.
3. Chiều hướng tới là sử dụng mô hình ERP để tin học hoá các xí nghiệp mà khỏi qua các công ty ERP đại gia như Oracle, SAP, PeopleSoft hoặc Microsoft. Làm thế nào tạo những modul, dạy cho khách hàng hiểu ý nghĩa từng modul, rồi tự học lập trình từng modul cho tới khi chạy được. Làm sao đào tạo những người trong công ty chưa hề biết tin học thành những lâp trình viên, phân tích viên, triễn khai viên, và kiến trúc sư, không theo một phương thức truyền thống. Lại một kiểu đội đá vá trời.
Trong phần 1 đi trước, ta đã rút ra những điều ta cần để ý đến, khi giãi quyết vấn đề trong phần 2 này. Tôi xin liệt kê lại những kết luận rút ra, để từ đó suy ra những giãi pháp có thể có được:
1. Vẫn còn đó 500.000 xí nghiệp/cơ quan chưa được tin học hoá và trong một thời gian ngắn vào khoảng từ 2 đến 3 năm ta phãi làm thế nào tin học hoá cho xong. Nghe nói như thế, rất nhiều người sẽ cho là điên, chẵng khác nào bà Nữ Oa đội đá vá trời.
2. Đội ngũ IT được đào tạo trong thời gian qua cũng như trong những năm tới không thể xài được nếu tiếp tục sử dụng theo như từ trước đến nay. Một số IT đã bỏ nghề quay ngoắt 180 qua một nghề khác, một số đang lang bang không làm gì cã, một số đầu quân vào những công ty outsourcing (như công ty TMA chẵng hạn) viết phần mềm gia công cho nước ngoài, số còn lại vất vưởng trong các công ty không làm được gì ra trò, than thân trách phận. Tuy nhiên cũng có một số rất ít cố gắng bám trụ, tự mình trau dồi nghiệp vụ, cũng làm được chút gì cho xí nghiệp, nhưng không là gì cã. Chúng tôi không quan tâm đến những công ty "đại gia" lắm của nhiều tiền dùng phần mềm ERP của các công ty phần mềm nước ngoài như Oracle, SAP, hoặc Dynamics của Microsoft. Nhưng làm sao cãi tạo loại chuyên viên IT lông bông vất vưỡng trong 500.000 đói HTTT quãn lý này.
3. Chiều hướng tới là sử dụng mô hình ERP để tin học hoá các xí nghiệp mà khỏi qua các công ty ERP đại gia như Oracle, SAP, PeopleSoft hoặc Microsoft. Làm thế nào tạo những modul, dạy cho khách hàng hiểu ý nghĩa từng modul, rồi tự học lập trình từng modul cho tới khi chạy được. Làm sao đào tạo những người trong công ty chưa hề biết tin học thành những lâp trình viên, phân tích viên, triễn khai viên, và kiến trúc sư, không theo một phương thức truyền thống. Lại một kiểu đội đá vá trời.
Bây giờ tôi xin trình bày cách suy nghĩ và cách giãi quyết bài toán mà chúng tôi đã trình bày trong phần 1, và trong phần mở đầu phần 2 này.
Bây giờ ta sẽ giãi quyết thế nào trước khối lượng 500.000 xí nghiệp chưa có một HTTT "ra hồn"?. Tôi có nghe một câu nói của người Hồi Giáo như sau: nếu núi không đến với tiên tri Mahomet, thì Mahomet sẽ đi lên núi. Áp dụng cho trường hợp chúng ta, thì nếu nhân viên của 500.000 xí nghiệp không thể đến trường nghe giãng kinh tế và IT (vì khối lượng quá lớn, mà cũng không tài nào có nổi số giãng viên đủ dạy cho khối lượng người này), thì các môn kinh tế và IT phãi về đến tay các nhân viên qua Internet, thông qua những lớp online (học bất cứ giờ nào, học bất cứ nơi nào, kể cả khi ngồi xã bầu tâm sự trong cầu tiêu). Vì học trực tuyến ngay tại chỗ làm việc theo phương pháp step-by-step nên cái người ta quan tâm là kết quả làm việc, cho ra ngay sản phẩm hơn là văn bằng do lớp online cung cấp.
Các phần mềm để dạy các lớp online chạy trên nền Internet thì nay cũng đã có quá nhiều trên thị trường trên thế giới, cho phép ta chọn lựa thoãi mái. Phần mềm dạy online này thường gồm hai phần: phần A giúp giãng viên chuẫn bị giáo trình chạy online. Khi phần A được chuẫn bị xong thì được nạp lên phần B, và khi người học đăng ký môn học, thì phần B lo quãn lý sự học hành của sinh viên đã đăng ký. Phần B theo dõi mọi thứ trong việc học của sinh viên: giờ giấc, nhịp độ, thời lượng, trắc nghiệm giữa kỳ và cuối kỳ, qui chiếu về những phần phãi tham khảo khi trã lời sai trước những câu quiz. Nói tóm lại, giờ đây với hạ tầng cơ sở truyền thông bẳng Internet, phương pháp dạy online giúp ta giãi quyết dạy thực tập một số lượng lớn người học với một phí tổn hầu như bẳng zero. Riêng chúng tôi, thì nhóm Khai Trí Business Information System (BIS) đã đề nghị sử dụng phần mềm Moodle trong việc dạy online. Chúng tôi nghiên cứu phần mềm miễn phí này.
Bây giờ ta sẽ giãi quyết thế nào trước khối lượng 500.000 xí nghiệp chưa có một HTTT "ra hồn"?. Tôi có nghe một câu nói của người Hồi Giáo như sau: nếu núi không đến với tiên tri Mahomet, thì Mahomet sẽ đi lên núi. Áp dụng cho trường hợp chúng ta, thì nếu nhân viên của 500.000 xí nghiệp không thể đến trường nghe giãng kinh tế và IT (vì khối lượng quá lớn, mà cũng không tài nào có nổi số giãng viên đủ dạy cho khối lượng người này), thì các môn kinh tế và IT phãi về đến tay các nhân viên qua Internet, thông qua những lớp online (học bất cứ giờ nào, học bất cứ nơi nào, kể cả khi ngồi xã bầu tâm sự trong cầu tiêu). Vì học trực tuyến ngay tại chỗ làm việc theo phương pháp step-by-step nên cái người ta quan tâm là kết quả làm việc, cho ra ngay sản phẩm hơn là văn bằng do lớp online cung cấp.
Các phần mềm để dạy các lớp online chạy trên nền Internet thì nay cũng đã có quá nhiều trên thị trường trên thế giới, cho phép ta chọn lựa thoãi mái. Phần mềm dạy online này thường gồm hai phần: phần A giúp giãng viên chuẫn bị giáo trình chạy online. Khi phần A được chuẫn bị xong thì được nạp lên phần B, và khi người học đăng ký môn học, thì phần B lo quãn lý sự học hành của sinh viên đã đăng ký. Phần B theo dõi mọi thứ trong việc học của sinh viên: giờ giấc, nhịp độ, thời lượng, trắc nghiệm giữa kỳ và cuối kỳ, qui chiếu về những phần phãi tham khảo khi trã lời sai trước những câu quiz. Nói tóm lại, giờ đây với hạ tầng cơ sở truyền thông bẳng Internet, phương pháp dạy online giúp ta giãi quyết dạy thực tập một số lượng lớn người học với một phí tổn hầu như bẳng zero. Riêng chúng tôi, thì nhóm Khai Trí Business Information System (BIS) đã đề nghị sử dụng phần mềm Moodle trong việc dạy online. Chúng tôi nghiên cứu phần mềm miễn phí này.
Như vậy, với Internet và phương pháp dạy online, ta có cơ hội dạy cùng lúc cho một số lớn xí nghiệp cách làm thế nào tự tin học hoá việc quãn lý sử dụng máy tính và tự thành lập một HTTT quãn lý cho mình mà khỏi phãi sự trợ giúp của các công ty phần mềm Oracle, SAP, v.v.. hoặc của các công ty outsourcing. Vấn đề là tạo ra một nội dung cho mỗi các môn học hình thành những modul của mô hình ERP như ta đã giãi thích trong phần 1.
Công việc như thế nào? Ta phãi hình thành 7 môn cốt lõi tương ứng với 7 modul ERP, như ta đã trình bày ở phần 1. Mỗi môn, khi dạy phãi mang hai hình thái: kinh tế và IT. Phần kinh tế vào đầu giãi thích chức năng của modul về mặt kinh tế trong lòng một xí nghiệp: ý nghĩa kinh tế của chức năng, từ khi vào cho đến khi ra, kèm theo những luồng dữ liệu/thông tin (DL/TT) đi kèm khi thực hiện chức năng này. Chính trong các trường kinh tế tài chính, người ta chỉ dạy phần chức năng của modul, nhưng lại không phân tích luồng dữ liệu / thông tin phát sinh hoặc thu thập để được xữ lý theo mô hình IPO (Input-Process-Output) như theo hình dưới đây:
![image1.gif]()
Khi giãi thích các luồng DL/TT vào ra modul hoặc luân chuyển trong nội bộ modul, chúng tôi sẽ sử dụng cách vẽ được gọi là Data Flow Diagram (DFD) để chĩ rõ đường đi nước bước của dữ liệu. Dưới đây là một hình DFD của modul Account Receivable (công nợ khách hàng).
Khi người học đã hiểu thấu phần kinh tế của modul, thì chúng ta bước qua dạy cách thực hiện chức năng kinh tế thông qua các chương trình phần mềm máy tính. Ta có thể chọn ngôn ngữ lập trình C# hoặc phần mềm Access 2007 của Microsoft. Theo tôi nghỉ, bước đầu ta sử dụng MS Access, vì nó tương đối dễ học và thực hành, cho ra chương trình nhanh và dễ chỉnh sửa. Sau khi hình thành xong một hệ thống chạy bằng Access chạy tốt, ổn định, ta có thể chuyển đổi hệ thống viết theo ngôn ngữ C#, nếu ta muốn. Trong giai đoạn này, ta dạy cho người học tạo ra những tập tin (file) - còn gọi là table - thường được chia thành: master file, detail file, transaction file, v.v.., rồi những màn hình nhập dữ liệu, gọi là data entry screen, cũng như các báo cáo. Ta phãi dạy thành lập những chương trình xữ lý dữ liệu theo kiểu từng bước một (step-by-step), xong bước này tới bước khác. Khi đạt đến bước cuối cùng thì modul sẽ được đuwa vào hoạt động. Dữ liệu cho mỗi modul sẽ được lấy từ xí nghiệp, dữ liệu sống. Khi ta hình thành một hệ thống ứng dụng cũa mỗi modul đến bước hoàn tất thì ta có thể cho chạy thừ song song với hệ thống làm bằng tay trong 3 tháng tối đa, để so sánh kết quả, nếu có sai sót nhỏ thì chĩnh sữa, cho tới khi hệ thống làm bằng tay và hệ thống chạy bằng máy tính cho ra kết quả giống nhau. Lúc này, thì ta có thể gỡ bỏ hệ thống làm bằng tay.
Như chúng tôi đã bảo là trong mô hình ERP có cả thảy 7 modul. Có modul dễ, có modul khó. Ta bắt đầu thành lập modul dễ, rồi tiếp theo modul vừa vừa, và cuối cùng modul khỏ nhất. Như vậy những modul dễ đi trước sẽ tập huấn những bước đi ban đầu giúp bạn thêm kinh nghiệm đối với những modul đi sau. Chúng tôi sắp xếp các modul đi từ dễ lên khó như sau: (1) CASH & BANK (CAB); ACCOUNT RECEIVABLE & ACCOUNT PAYABLE (AR/AP); (2) FIXED ASSETS (FA), ACCOUNTING (ACT); (3) INVENTORY CONTROL (IC); ORDER PROCESSING & SALES (OPS); (4) PAYROLL (PAR). Modul dễ chỉ cần 2 tuần là xong. Modul vừa cần 4-6 tuần là xong, còn modul khó thì phãi mất 12 đến 20 tuần. Nếu giỏi lắm thì mất 12 tháng, bết lắm cũng 18 tháng. Có người sẽ cho tôi quá lạc quan. Có nhiều công ty tự động hoá chĩ một ứng dụng vật tư mà mất đến 2 năm mà chưa đâu vào đâu. Ở đây, nên nhớ phần phân tích, phần xác định nhu cầu (requirement) nhập và xuất chủng tôi đã làm hơn 80% công việc, khi truyền cho học viên theo online, học viên làm phần 20% còn lại thích ứng với môi trường họ ứng dụng. Do đó, tôi để cho thời gian trã lời tôi có lạc quan tếu hay không.
Như bạn có thể thấy, điểm quan trọng là nội dung của mỗi modul sẽ được truyền giãng bằng online. Học viên sẽ được học phần lý thuyết (phần kinh tế), rồi sau đó thực hiện thực hành những chương trình (phần IT). Như vậy học viên sẽ biết lục phủ ngũ tạng của một HTTT quãn lý sẽ được hình thành thế nào, hoàn toàn khác với việc sử dụng phần mềm ERP mua của ngoại quốc. Phần mềm ERP của ngoại quốc viết theo cái lô gic cơ sở pháp lý ngoại quốc, còn đây học viên viết theo lô gic pháp lý VN. Khi một xí nghiệp tham gia chương tin học hoá của chúng tôi, theo mỗi modul họ phãi gởi ít nhất 2 người, 4 người đối với module khó lập thành một team. Team này, gồm một nữa quen nghiệp vụ của chức năng (phần kinh tế), nữa kia biết IT (có thể là những ai lông bông, vất vưỡng), như vậy khi học làm một modul thì người quen nghiệp vụ sẽ giãi thỉch phần kinh tế cho người IT phía kia hiểu, còn khi qua viết chương trình, thì dân IT giãi thích phần kỹ thuật máy tính cho dân nghiệp vụ kinh tế biết rõ. Như vậy, cã hai loại người hiểu nhau người này không ai cầm tay chỉ việc người kia.
Cuối cùng, làm thế nào đào tạo những người trong công ty chưa hề biết tin học thành những lâp trình viên, phân tích viên, triễn khai viên, và kiến trúc sư, không theo một phương thức truyền thống. Lại một kiểu đội đá vá trời. Để giãi quyết vấn đề này, chúng tôi sẽ soạn những tập sách đặc biệt: một dành cho kiến trúc sư, một dành cho triển khai viên. Còn sách dành cho phân tích viên, thì bộ sách "Phân tích Thiết kế các HTTT" của ông Dương Quang Thiện đã khá đầy đủ và đã được phát hành từ lâu. Như bạn đã biết là tại các xí nghiệp chỉ có kỹ sư tin học. Còn các chức danh khác: phân tích viên, triển khai viên và kiến trúc sư thì là zero. Ta đành hoạt động theo kiểu phân thân của Tôn Ngộ Không. Nếu đóng vai kiến trúc sư, thì đọc quyển sách dành cho kiến trúc sư mà chúng tôi sẽ viết ra trong tương lai. Với vai trò triển khai viên cũng thế. Mỗi vai trò đều độc lập, nên việc đọc tập dành cho kiến trúc sư không tuỳ thuộc vào kiến thức của triển khai viên. Trong một lúc, bạn có thể giữ nhiều vai trò, giống như Tôn Ngộ Không . Viêc này không có chi là không thể được, vì bản thân tôi, tôi đã có lần làm như thế.
Tôi xin kể chút chuyện của tôi để các bạn hiểu vấn đề tôi đặt ra. Đầu năm 1964, tôi vào làm việc cho IBM FRANCE ở Paris. Sau 18 tháng được huấn luyện thành System Engineer (SE), tôi được chuyễn về Sai Gon làm cho IBM WORLD TRADE, vào ngày 14/07/1965, đúng một tuần trước khi Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, bắt đầu mộc chiến tranh can thiệp. Vào thời điểm đó, chỉ ở SG mới có máy điện cơ kế toán, được gọi là unit records (UR), tiền thân máy điện toán. Có cả thãy 25 cơ quan nhà nước và 2 cơ quan tư nhân Pháp sử dụng máy UR. Nhiệm vụ của tôi là làm thế nào dụ khách hàng chuyển từ máy UR thành máy IBM 360/20. Vì là người Việt đầu tièn vào ngành này, nên một thân một mình phãi tự bươn chãi, chã dựa được vào ai. Ban ngày đi phân tích vấn đề cho 4 cơ quan, ban đêm đi dạy lập trình ngôn ngữ RPG tại hai nơi: trường nay là Lê Quy Đôn, và bộ tổng tham mưu VNCH nay ở đường Hoàng Văn Thụ. Sau đó dạy cho nhân viên các cơ quan làm phân tích chi tiết, rồi vẽ flowchart các chương trình phãi viết, rồi theo dõi nhân viên viết chương trình, test, rồi ráp nối thành ứng dụng. Bạn thấy tôi giống như Tôn Ngộ Không không. Trong 4 năm tôi tin học hoá được 12 cơ sở, trong ấy có công ty BGI của Pháp mà tôi đầu quân vào giữa năm 1969. Trước khi rời IBM tôi đã lên trường Chính trị Kinh doanh Đà Lạt tuyển cho IBM 12 người để được đào tạo thành SE như tôi. Câu chuyện nhỏ này cho bạn thấy có thể đào tạo các chuyên viên điện toán hoạt động theo kiểu Tôn Ngộ Không như tôi đã từng làm.
LÀM THẾ NÀO TIN HỌC HOÁ TOÀN BỘ CÁC XÍ NGHIỆP VIỆT NAM (phần 3)
Từ phần 2, bạn có thể rút tỉa ra những kết luận giúp bạn cho thi công (implementation) dự án. Sau đây là những kết luận:
1) Bạn phãi tạo ra môn ERP rất độc đáo, mà không đại học kinh tế nào cỏ cã. Chính cách soạn giáo án online đặc biệt sẽ giúp cho việc tin học hoá các xí nghiệp nhanh chóng, dễ dàng, không tốn kém. Như đã nói có 7 môn modul cốt lõi. Xí nghiệp tuần tự xây từng modul một, từ dễ lên khó, và phãi được đưa vào hoạt động với sự bằng lòng của khách hàng. Nó giống như tự đổ bánh lấy rồi ăn, xem ngon ra sao. ERP sẽ được truyền dạy theo online.
2) Chọn ra một hệ thống truyền dạy online, thịnh hành mà ngày nay người ta gọi là MOOC, viết tắt của cụm từ Mass Open Online Course - Lớp học Trực tuyến Mở Cho Nhiều Người. Thí dụ nhóm BIS đề nghị phần mềm Moodle. Hệ thống MOOC, sẽ là miễn phí. Có thể sống bằng quãng cáo.
3) Soạn và phát hành một số sách tham khảo dành cho các chuyên viên của ngành tin học, mà hiện nay chưa được đào tạo như: kiến trúc sư, triển khai viên, phân tích viên. Ở Mỹ, các chuyên viên này không được đào tạo bởi đại học (vì đại học không chuyên môn sâu), mà bởi các nhà sản xuất máy tính như SISCO, IBM, v.v..Các chuyên viên này ở VN không có, nên đành phãi đọc sách tham khảo do ta viết ra để thủ vai giống như Tôn Ngộ Không.
4) Soạn và phát hành một số sách Step-By-Step dưới dạng ebook đối với các ngôn ngữ Visual C#, Visual Basic, VBA, và Access 2007, để dùng lập trình với ERP.
Tới đây kết thúc phần 3 và là phần chót.
DUONG QUANG THIEN - 27/10/2013
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)