Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 5 tháng 2, 2014


Hiện tượng di dời cơ sở sản xuất
ra nước ngoài

Michel Lasserre (Pháp) 2007
Dương Quang Thiện (người dịch) 8/2012

1 Toàn cầu hóa sản xuất
Toàn cầu hóa là một hiện tượng liên quan đến kinh tế trong toàn thể của nó. Những người chủ xướng toàn cầu hóa thường nhấn mạnh đến việc toàn cầu hóa vốn liếng tài chính, là một chiều kích (dimension) cho thấy thật ra nhiều rũi ro đối với kinh tế toàn cầu, những khủng hoảng tiền tệ và thị trường chứng khoán, có thể đi đến một sự sụp đổ của hệ thống tài chính áp dụng cho toàn thể hành tinh. Nhưng khi tách rời riêng rẻ, thì vốn liếng tài chính chẳng qua chỉ là tờ giấy lộn, là những phiếu sở hữu các xí nghiệp (cổ phiếu), hoặc những giấy xác nhận nợ. Điều đem lại giá trị cho tờ giấy “lộn” này nằm ngoài hệ thống tài chính, nhưng lại trong xí nghiệp sản xuất ra của cải vật chất và dịch vụ hoặc trong sự hiện hữu của những thu nhập cho phép trả nợ. Do đó vốn liếng tài chính không tách rời khỏi xí nghiệp và sản xuất, do đó toàn cầu hóa nghiểm nhiên là toàn cầu hóa việc sản xuất.
Vốn liếng xuất xứ từ quốc gia A, sẽ được đem đầu tư qua một quốc gia B (chậm tiến) khác với mong mõi đem lại lợi nhuận, rồi sau đó có thể chuyển ngược lợi nhuận này về quốc gia A nguyên thủy. Quốc gia B như vậy phải có ngoại tệ cần thiết để trả lợi nhuận này, do đó phải sản xuất mặt hàng rồi cho xuất khẩu. Như vậy sự giải phóng tài sản tài chính (vốn liếng) không thể nào tránh được việc giải phóng sản xuất và sự luân chuyển hàng hóa giữa các nước.
Việc trao đổi tự do mậu dịch ồ ạt được gắn liền với việc toàn cầu hóa không phải xảy ra lần đầu tiên trong lịch sử của chế độ tư bản chủ nghĩa. Nó đã tiếp diễn sau những thời kỳ 1830-1870, rồi 1918-1929, cả hai kết thúc bởi một suy thoái kinh tế trầm trọng. Lần này tự do mậu dịch có một sự khác biệt do sự sâu rộng của nó, nhờ sự tiến bộ công nghệ trong vận chuyển hàng hóa cũng những phương thức sản xuất, và do mức độ tiêu thụ khối lượng lớn của cải vật chất do sản xuất công nghiệp làm ra. Vào cuối nửa thế kỷ 20, việc xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp là rất dễ dàng cũng như xuất khẩu hàng hóa làm ra khắp nơi trên thế giới. Các cánh cửa đã mở toang cho toàn cầu hóa về sản xuất và hằng loạt di chuyển các cơ sở sản xuất ra các nước chậm tiến được thực hiện, hiện tượng này được gọi là délocalisation theo tiếng Pháp, tạm dịch là di dời cơ sở sản xuất.
 Việc toàn cầu hóa sản xuất là một chuyển động khá mạnh mẽ, được bắt đầu cách đây hơn 3 thế kỷ, tập trung ban đầu những sản xuất kỹ nghệ mang tính “công nghệ thấp”, sau đó bây giờ lan ra việc sản xuất những của cải vật chất “hàm lượng cao về mặt công nghệ”, qua các dịch vụ và R&D (nghiên cứu và phát triển). ( Xem : Từ lĩnh vực công nghiệp qua lĩnh vực nghiên cứu và phát triển).
Việc di dời cơ sở sản xuất các xí nghiệp chỉ là phần thấy được của một hiện tượng sâu sắc hơn nhiều. Thực chất của việc di dời cơ sở sản xuất diễn ra một cách tế nhị hơn, qua trung gian của việc phân phối và việc gia công (xem: Các dạng di dời cơ sở sản xuất khác nhau).
Cho dù sự tuyên truyền của giới tân-tự-do (néolibérale) có khen ngợi những lợi ích của toàn cầu hóa mấy đi nữa cũng như tìm ra những khía cạnh tốt của di dời cơ sở sản xuất (xem: Những lý lẽ “pro-delocalisations”), thì tác động tiêu cực liên quan đến công ăn việc làm là không thể chối cãi được (xem: Các hậu quả liên quan đến công ăn việc làm).
Nếu việc toàn cầu hóa không giúp ích gì đối với các nước nghèo, thì ít nhất nó cho phép sự trỗi dậy của một con “khủng long kinh tế”, đó là Trung Quốc (xem: Trung Quốc trong kinh tế toàn cầu). Việc mất cân đối cán cân thương mại ngày càng lớn dần, việc giải công nghiệp hóa (déindustralisation) tại các nước giàu, kể cả những rũi ro liên quan đến công ăn việc làm của chúng ta, đòi hỏi những câu trả lời có thể tin được và cấp bách trước những câu hỏi về di dời cơ sở sản xuất, hoặc những câu trả lời như thế hiện thời chưa thấy đáp ứng. (xem: Những câu trả lời nào?)
2 Di dời cơ sở sản xuất từ lĩnh vực công nghiệp qua
lĩnh vực nghiên cứu và phát triển R&D
Hiện tượng di dời cơ sở sản xuất xuất hiện rõ ràng vào những năm 1970, liên quan trước tiên đến các kỹ nghệ dệt may, được thực hiện ở Pháp bởi một loạt tái cấu trúc xí nghiệp và sa thải công nhân. Những xí nghiệp lớn cho chuyển một phần các cơ sở sản xuất ít nhiều quan trọng, trong khi ấy những doanh nghiệp nhỏ sa thải nhân công hoặc đóng của tiệm. Trong nhiều thí dụ điển hình, ta có thể kể nhà sản xuất tất vớ Kindy di chuyển ra nước ngoài một phần cơ sở sản xuất của mình vào năm 1975. Bidermann sản xuất những chiếc quần đầu tiên tại Hung ga ri vào đầu năm 1974, tiếp theo sau là tại Bồ Đào Nha. Vào cuối những năm 1970, 30% sản xuất được chuyển ra ngoài, và 10 năm sau là 70%. Theo lô gic đi tìm nơi nào có giá thành thấp nhất, Bidermann di chuyển cơ sở sản xuất qua Viêt Nam, qua Maroc rồi qua đảo Ile Maurice.
Vào những thập niên 1980 và 1990, việc chuyển cơ sở sản xuất ra nước ngoài ngày càng tăng một cách nghiêm trọng. Sau lĩnh vực dệt may, là đến phiên lĩnh vực giày dép, đồ gia dụng điện tử, kể cả những đồ chơi trẻ em và các mặt hàng thể thao.
Vào năm 1987, công ty Thomson, nhà sản xuất máy TV, đã sa thải 400 công nhân trên 800 tại nhà máy sản xuất bóng đèn TV Videocolor ở Lyon (Pháp). Các bóng đèn sẽ được sản xuất trong 2 năm tại Ý rồi sau đó được chuyển qua Bra xin (Nam Mỹ). Lần lượt, Thomson đã cho di dời cơ sở sản xuất radio báo thức, TV, hệ thống hi-fi, rồi cho đóng cửa nhiều nhà máy với việc sa thải hằng trăm công nhân. Trong lĩnh vực điện tử, việc di dời cơ sở sản xuất sẽ tiếp tục trong thập niên 1990, và cho đến ngày hôm nay, do đó từ 1993 trở đi, số công nhân trong ngành điện tử của Pháp đi từ 500.000 chỗ làm xuống còn 220.000.
Vào những thập niên 1980 và 1990, người ta thấy xuất hiện những di dời cơ sở sản xuất quan trọng trong lĩnh vực dịch vụ của các nước Anh-Mỹ. Những trung tâm gọi điện thoại được chuyển qua Ái Nhĩ Lan, rồi sang châu Á (Ấn độ). Tiếp theo là bắt đầu lĩnh vực lập trình phần mềm được chuyển qua Ấn độ. Vào năm 1993, công ty Motorola (Mỹ) khai trương trung tâm R&D đầu tiên đặt trụ sở tại Trung Quốc. Microsoft cũng theo đuôi vào năm 1998.
Từ những năm 2000 trở đi, việc di dời cơ sở sản xuất tiếp tục một cách mạnh mẽ nhất là trong lĩnh vực dịch vụ. Đây liên quan đến những trung tâm các cuộc gọi sẽ được chuyển qua Maroc (Bắc Phi) với giá 40% rẻ hơn. Người ta chứng kiến một sự tăng trưởng rất mạnh trong việc di dời cơ sở sản xuất thuộc lĩnh vực gia công các dịch vụ đối với xí nghiệp: chẳng hạn làm kế toán, phát hành hóa đơn, tính và in lương và phát hành đơn đặt hàng. Vào năm 2004, theo một nghiên cứu của CNUCED, (Conference des Nations Unies pour le Commerce et le Developpement – Hội nghi Liên Hiệp Quốc về Thương Mại và Phát Triển) thì 39% các tập đoàn châu Âu đã cho di dời một phần lớn những hoạt động dịch vụ của họ, và 44% có ý định làm thế trong những năm sắp tới.
Thí dụ của hãng tin Reuters, khi hãng này di dời qua Ấn độ những hoạt động phân tích tài chính của mình, cho thấy là lĩnh vực dịch vụ tài chính, mãi tới đây là không hề hấn gì, thì nay là lĩnh vực lần hồi bị chạm tới. Trong một nghiên cứu phát hành vào tháng 4/2004, hãng phân tích tài chính DeLoitte Research ước tính là lĩnh vực dịch vụ tài chính sẽ di chuyển cơ sở trong 5 năm tới, với 2 triệu công ăn việc làm về phía các nước nằm dọc ấn độ dương như Malasia, Singapore, Ấn độ, và Trung Quốc. Việc di dời cơ sở này, năm 2008, đem lại một tiết kiệm 1,4 tỉ đô la đối với 100 doanh nghiệp đầu đàn trong ngành dịch vụ tài chính thế giới.
Tiến trình di dời các cơ sở sản xuất tiếp tục trong lĩnh vực công nghiệp chẳng hạn một phần ngành luyện kim, và ngành nhựa của các nước châu Âu qua các nước PECO (Pays d’Europe Central et Orientale – các nước tây âu và trung á). Việc giải phóng quota xuất khẩu đối với hàng hóa Trung Quốc liên quan đến dệt may, vào năm 2005, làm cho bùng nổ ngay lập tức nhập khẩu tại các nước Âu. Vào đầu quý 1/2005, việc nhập khẩu áo may ô ngắn tay tăng 167%, quần đàn ông tăng 413%, áo thun tăng 534%. Tại Pháp, trong năm 2005, một vị có trách nhiệm tại MEDEF ước tính là giữa 15.000 và 20.000 công ăn việc làm đã mất đi do trào lưu di dời cơ sở sản xuất. Những mối nguy hiểm đang lần hồi rõ nét trong lĩnh vực sản xuất xe hơi, theo đấy Trung Quốc bắt đầu xuất khẩu. Nhà sản xuất xe hơi Chery đã thông báo là họ chuẩn bị bán ra xe hơi Trung Quốc sản xuất với giá hấp dẫn trên các thị trường Âu Mỹ từ năm 2007 trở đi. Công ty này đang tính chuyện xây dựng những nhà máy sản xuất linh kiện rời tại Nga, Roumanie và Ba Lan.
Trong lĩnh vực điện tữ, việc di dời cơ sơ sản xuất giờ đây tập trung vào Trung Quốc; quốc gia này trở thành nhà sản xuất hàng đầu về máy tính xách tay thay vì Đài Loan. Chả có gì ngạc nhiên khi ta biết là 45.000 kỹ sư tin học ra trường mỗi năm tại các đại học Trung Quốc, họ lãnh một khoản tiền lương chỉ bằng 1/4 lương trả tại Đài Loan. Chính tại “Delta des Perles” (Thung lũng Ngọc Trai) các nhà máy sản xuất đã cho ra 1/3 sản xuất toàn cầu các máy đọc đĩa CD, 60% các đầu đọc laser đối với DVD và 70% máy in photocopy. Xí nghiệp Galanz sản xuất đến 50% lò nướng vi ba bán trên thế giới.
Trong lĩnh vực phần mềm, Ấn độ giữ vai trò đầu tàu, và việc di dời cơ sở sản xuất chạy ro ro. Phải nói rằng Ấn độ, tương tự như Trung Quốc, tự trang bị cho mình đủ mọi phương tiện để cho ra lò nhiều kỹ sư tin học ở Bangalore (miền Nam Ấn độ) hơn là ở thung lũng Silicon Valley ở California (Mỹ).
Những năm 2000 cũng thấy việc leo thang trong việc di dời các cơ sở sản xuất trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển R&D. Vào năm 2005, công ty sản xuất máy bay Airbus cho mở một trung tâm kỹ thuật tại Trung Quốc để nghiên cứu các máy bay thế hệ mới, và công ty STMicro cho mở ở Rabat, Maroc một trung tâm nghiên cứu các bộ vi xử lý và cho đặt những nhà máy mới ở châu Á và Intel ở Việt Nam.
Báo cáo hằng năm năm 2005 của CNUCED (Conference des Nations Unies pour le Commerce et le Developpement – Hội nghi Liên Hiệp Quốc về Thương Mại và Phát Triển) cho thấy sự quan trọng của việc di dời cơ sở sản xuất của những xí nghiệp đa quốc gia trong nghiên cứu và phát triển R&D. Vào cuối năm 2004, trên lãnh thổ Trung Quốc có đến 700 trung tâm R&D của các công ty đa quốc gia, và có đến 100 công ty đa quốc gia có đặt các trung tâm R&D tại Ấn Độ. Vào năm 2005, Microsoft đã cho mở trung tâm R&D tại Bangalore (Ấn độ). 6 trên 19 trung tâm R&D của Motorola (Mỹ) giờ đây đã được đặt tại các nước đang phát triển (Trung Quốc, Ân độ, Hàn quốc, Malaisia, Singapore và Bra xin). Các công ty dược phẩm đa quốc gia cho đặt các trung tâm R&D đặc biệt ở Ấn Độ (Pfizer, Astra-Zeneca, Sanofi-Adventis, Novartis, v.v..). Suốt thập niên sau cùng, có hơn 100 công ty đa quốc gia đã đưa các phòng thí nghiệm R&D về Singapore, trong ấy có Rolls-Royce, Motorola, Philips, General-Electric, Hewlett-Packard, Matsushita, Sony , 3M, et Daimler-Chrysler. Trên 1773 dự án đầu tư R&D ra ngoại quốc phát ra vào những năm 2002 đến 2004, thì có đến 1095 dự án được triển khai trong các nước đang phát triển, và đến một nửa (861) là tại vùng châu Á và châu Úc.
Qua việc trình bày lịch sử của việc di dời cơ sở sản xuất ta có thể thấy là ban đầu, việc di dời khởi đi từ những lĩnh vực công nghệ thấp (nghĩa là sử dụng nhiều lao động với một mức đầu tư tương đối thấp), sau đó lần lên các lĩnh vực công nghiệp đòi hỏi nhiều phương tiện công nghệ (thí dụ điện tử gia dụng). Hiện tượng lan qua các lĩnh vực dịch vụ, rồi cuối cùng là những lĩnh vực mũi nhọn, nghiên cứu và phát triển R&D.
Bất kể là lĩnh vực nào đi nữa, thì những dự kiến đều cho thấy sự lớn mạnh trong việc di dời cơ sơ sản xuất. Người ta trù liệu là trong khoảng thời gian 2006-2010, việc di dời cơ sở sản xuất sẽ làm mất đi 202.000 công ăn việc làm chỉ trong lĩnh vực dịch vụ. Trong báo cáo thường niên của CNUCED người ta dự tính có những lý do cơ bản đối với việc quốc tế hóa nghiên cứu và phát triển R&D về các quốc gia đang phát triển để có thể tiếp tục”. Nếu ngày nay, gần một nửa các công ty đa quốc gia đã di dời một phần R&D qua Trung Quốc, Ấn độ và Singapore, thì tỉ lệ này sẽ tiếp tục nâng lên. Theo một điều tra của CNUCED tại các tấp đoàn đa quốc gia thì Trung Quốc từ đây đến 2009 sẽ là nơi mà họ đặt trụ sở cho những hoạt động nghiên cứu và phát triển

3 Những dạng khác nhau về di dời cơ sở
Các định nghĩa về khái niệm di dời cơ sở sản xuất thay đổi ít nhiều tùy theo tác giả. Vì sự phức tạp của vấn đề, cũng như những lợi ích của trò chơi, làm cho dễ bị cám dỗ là cho xóa vết tích để có thể giảm thiểu tác động tiêu cực đối với công ăn việc làm. Thí dụ bản báo cáo của Francis Grignon trước quốc hội Pháp chỉ cho rằng việc di dời cơ sở sản xuất “chỉ là những biến động của các xí nghiệp đưa đến việc thay thế cố tình một cuộc sản xuất nội địa bởi một sản xuất ở nước ngoài”. Việc sử dụng từ ngữ “cố tình” đưa vào một hạn chế mà ta không tài nào có thể biện minh. Rõ ràng là hiện hữu những “thay thế cố tình” nhưng cũng có những thay thế không cố tình. Trong lĩnh vực dệt may, đúng là có những công ty Pháp, chẳng hạn Biderman, cố tình di dời một phần sản xuất của họ ra ngoại quốc. Tuy nhiên, cũng có những xí nghiệp khác phải giảm đi sản xuất của họ hoặc ngưng hoạt động. Trước sự sản xuất nội đia, người ta thay thế một sản xuất ngoại quốc không có gì là cố tình, nhưng đúng ra là hình như không cố tình và không tự nhiên. Nếu chỉ quan tâm đến những “thay thế cố tình” thì lại thuộc một tiếp cận hạn chế, làm cho bí ẩn một phần lớn hiện tượng và không cho phép một cuộc phân tích sâu sắc. Đúng ra mục tiêu của bản báo cáo của Francis Grignon là để giải bí mật (demystifier) hiện tượng di dời cơ sở sản xuất, nghĩa là nói theo ngôn ngữ tự do là cố gắng giảm thiểu vấn đề do hiện tượng di dời đặt ra.
Sự di dời cơ sở sản xuất là một hiện tượng giao thoa với những yếu tố khác nhau và với những cơ chế mang tính kinh tế hoặc xã hội (ngoại thương, canh tranh quốc tế, tái cấu trúc các xí nghiệp, phân phối giá trị thăng dư, v.v..) với những hậu quả sắp tới có khả năng đem lại một tác động quan trọng đối với sự cân bằng kinh tế xã hội của chúng ta. Một nghiên cứu liên quan đến hiện tượng di dời cơ sở sản xuất không chỉ bằng lòng với một kiểu tiếp cận giảm thiểu như theo bản báo cáo của Francis Grignon, mà phải tiếp cận theo thực tế của hiện tượng càng bao la càng tốt.
Trong báo chí, thường xuyên người ta nói đến “di dời xí nghiệp”, và nhiều người tưởng tượng rằng di dời thực chất liên quan đến các xí nghiệp đóng cửa các đơn vị sản xuất trong nước để chuyển ra đặt ở ngoại quốc. Thật ra, từ này chỉ phản ảnh một phần nào sự thật, vì rằng không phải tự thân xí nghiệp di dời mà chỉ di dời tất cả hoặc một phần các cơ sở sản xuất. Do đó di dời không phải liên quan đến di dời xí nghiệp mà đúng ra là di dời một phần sản xuất của một sản phẩm nào đó mà thôi. Đây là những hàng hóa được sản xuất trong nước, bởi những công nhân nội địa của chúng ta, nay dời việc sản xuất ra nước ngoài bởi những công nhân bản địa. Khi nói đến di dời là trước tiên là di dời các cơ sở sản xuất.
Ở đây chúng tôi cố gắng đưa ra một định nghĩa đủ rộng để khoanh lại vấn đề theo tất cả các chiều kích: từ ngữ “di dời” liên quan đến việc sản xuất tại nước ngoài những hàng hóa dùng phân phối tại thị trường trong nước, những hàng hóa mà trước đây có thể được sản xuất trong nước. Từ định nghĩa này, bây giờ ta có thể đi sâu vào hiện tượng di dời. Người ta có thể phân biệt 3 loại di dời sản xuất: di dời trực tiếp, gián tiếp, và mặc nhiên.
Việc di dời trực tiếp có thể mục thị rõ ràng vì báo chí đưa tin khá nhiều, vì thường đi kèm theo việc sa thải công nhân, và thường gây ra những vụ biểu tình phản đối về mặt xã hội. Đây thường là trường hợp một xí nghiệp cố tình quyết định mở thêm hoặc nới rộng một đơn vị sản xuất tại ngoại quốc trong khi giới hạn hoặc nhất quyết cắt bỏ những đơn vị sản xuất trong nước. Những vụ di dời trực tiếp tương đối hạn chế theo số lượng nhưng được xem như là phần nỗi của tảng băng di dời sản xuất.
Còn việc di dời gián tiếp thì không “nỗi đình nỗi đám” nhưng chắc chắn là quan trọng nhất. Ở đây thực chất là việc di dời những nhà cung cấp và những nhà gia công, liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế.
Trong một hệ thống kinh tế tự do, nghĩa là giá cả tự do không bị khống chế bởi một cơ quan hành chính nào cả, thì việc phân phối theo bản chất là một địa hạt xảy ra cạnh tranh khốc liệt. Siêu thị nào bán giá rẻ thì chắc chắn là có khách hàng nhiều hơn, như vậy có cơ may tăng doanh thu so với các đối thủ cạnh tranh. Quảng cáo mà các công ty phân phối cho thấy là khá hùng hồn đối với vấn đề: người ta ở đây người ta “chặt giá xuống” ("casse les prix"), người ta “đè bẹp” ("écrase") giá, người ta khuyến mãi liên tục, đôi khi người ta đồng ý hoàn tiền 2 lần sai biệt nếu khách hàng tìm thấy nơi đối thủ cạnh tranh cùng mặt hàng bán giá rẻ hơn. Đối với nhà phân phối, nỗi lo bán giá rẻ nhất có thể được thường đi dôi với nỗi lo cung cấp hàng với giá tốt nhất, và chính đây là tiêu chí chọn lựa nhà cung cấp riêng cho mình tại các siêu thị. Nỗi lo này canh cánh bên lòng phía người bán hàng cũng như phía người mua hàng. Không cần biết hàng xuất xứ từ đâu, điều kiện sản xuất thế nào (người ta chỉ trích Samsung đã sử dụng trẻ con dưới 15 tuổi sản xuất các chiếc Galaxy), miễn là giá càng rẻ càng tốt. Từ lô gic này, các trung tâm mua sắm của các nhà phân phối tại các nước Âu Mỹ ngày càng di dời các nhà cung cấp của mình, nghĩa là thay vì mua hàng sản xuất trong nước thì đi mua hàng hoặc cho gia công hàng ở nước ngoài. (Bạn thấy là ở Việt Nam. vô hình chung, qua việc gia công cho các hãng Adidas chẳng hạn, người ta tham gia vào hiện tượng di dời này).
Vào đầu những năm 1970, ở Pháp, những nhà buôn đã tung ra bán hàng dệt may được sản xuất ở ngoại quốc, vô hình chung đã tạo áp lực lên giá thành sản xuất của các nhà sản xuất nội địa. Tiếp theo sau là đến phiên các mặt hàng điện tử gia dụng, các mặt hàng giải trí, nghĩa là nói chung phần lớn các mặt hàng công nghiệp dành cho tiêu thụ ở các hộ gia đình. Do đó, chính những lĩnh vực này bị ảnh hưởng nhiều nhất trong việc di dời cơ sở sản xuất trực tiếp. Áp lực này do các nhà phân phối chủ xướng không thể chối cãi là một nhân tố làm trầm trọng thêm việc di dời trực tiếp các xí nghiệp.
Tuy nhiên, nếu khâu phân phối là nguyên nhân của cuộc di dời trực tiếp, thì vai trò của nó không chỉ giới hạn vào loại di dời mà hình như nó còn là một tiến trình gián tiếp khá lừa lọc. Bằng cách di dời những nhà cung cấp của mình, không chỉ một vài xí nghiệp di dời trực tiếp sản xuất của mình mà còn cả một lĩnh vực sản xuất nội địa bị “ngấm đòn”. Ta thử lấy thí dụ của một công ty quốc gia sản xuất chén bát, cho tiêu thụ toàn quốc qua trung gian một chuỗi các siêu thị. Tất cả mọi việc chạy tốt cho tới khi một nhà xuất đến từ một quốc gia có giá nhân công rẻ mạt đến đề nghị cung cấp hàng cho trung tâm mua sắm của các siêu thị. Như vậy nhà sản xuất nội địa sẽ bị một áp lực giảm giá rất lớn, và nếu không thỏa mãn đòi hỏi của bên phân phối, thì nhà phân phối không còn lựa chọn nào là nghỉ chơi với nhà sản xuất nội địa, và đi chơi với nhà sản xuất ngoại quốc. Thế là việc sa thải nhân công không thể tránh khỏi đối với nhà sản xuất nội địa. Ngoài ra, không may xí nghiệp này mang khá nhiều nợ cố gắng chống cự trước sự canh tranh đến từ bên ngoài, thì câu chuyện sẽ kết thúc bằng một cuộc phá sản của xí nghiệp nội địa, và tất cả các nhân viên công nhân sẽ ra đường, đi đăng ký xin trợ cấp thất nghiệp. Trong tháng 7/2012, vừa qua, hãng sản xuất xe hơi nỗi tiếng của Pháp, PSA Peugeot Citroen, dự định đóng cửa nhà máy ở Aulnay-sous-Bois, cho 3.000 công nhân viên ra đường, và giảm đi 5.000 công ăn việc làm ở các nhà máy khác thuộc PSA Peugeot Citroen. Chính phủ Pháp đang cố ngăn cản việc này, nhưng đây là một công ty tư nhân, thì không biết chính phủ Pháp sẽ làm được gì?
 Trong thí dụ này, rõ ràng là không có di dời trực tiếp sản xuất. Tuy nhiên, là rõ ràng có những công ăn việc làm nội địa bị biến mất, như vậy đúng là việc sản xuất đã bị di dời. Những mặt hàng trước đây được sản xuất nội địa thì bây giờ được thay thế bởi những mặt hàng ngoại. Bằng cách “di dời” qua các nhà cung cấp ngoại, thì việc phân phối là nguồn gốc không những đối với việc di dời trực tiếp mà còn là đối với những di dời gián tiếp sản xuất.
Hiện tượng di dời gián tiếp sản xuất không những liên quan đến lĩnh vực phân phối mà còn liên quan đến sản xuất công nghiệp. Phần lớn thời gian, các xí nghiệp thường kêu gọi đến những nhà cung cấp hoặc gia công để mua hoặc đặt sản xuất những linh kiện phụ tùng không thuộc trực tiếp lĩnh vực sản xuất của họ và xí nghiệp thấy là có lợi khi đưa cho sản xuất bởi những xí nghiệp chuyên biệt hơn. Để tăng biên độ lãi hoặc để giảm giá bán, thường thì xí nghiệp đi tìm những nhà cung cấp hoặc gia công có giá càng rẻ càng tốt. Ở đây người ta lại ở trong tình cảnh tương tự như với nhà phân phối nội địa. Những nhà gia công nào không thể theo nỗi sự cạnh tranh về mặt giá cả của những nước nào có giá nhân công rẻ thì sẽ bị cho ra rìa. Ở đây không bắt buộc có di dời sản xuất trực tiếp, nhưng việc di dời gia công công nghiệp thật sự đưa đến những hậu quả là di dời gián tiếp sản xuất được gắn liền với sự mất mát công ăn việc làm.
Các xí nghiệp, thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp cũng như phân phối, cũng sử dụng những nhà gia công cung cấp cho họ những dịch vụ. Từ chuyên môn được gọi là outsourcing. Do đó, với tiến bộ trong ngành tin học, một vài dịch vụ có thể hoàn toàn được di dời về mặt kỹ thuật (lập trình & thiết kế phần mềm, làm kế toán, hoặc những hoạt động hành chính liên quan đến văn phòng, chẳng hạn trung tâm các cuộc gọi, v.v..). Công ty đa quốc gia (hoặc xuyên quốc gia) tư vấn và dịch vụ Accenture như vậy cho đặt văn phòng ở Prague (công hòa Séc) theo đấy họ đề nghị những dịch vụ kế toán và pháp lý. Dịch vụ mà Accenture cung cấp đã được sử dụng bởi vài chục xí nghiệp lớn, đáng kể là xí nghiệp Pháp Rhodia. Hiện thời, việc di dời này chỉ liên quan đến những xí nghiệp lớn, tuy nhiên đây chỉ là bước đầu, vì người ta nghỉ rằng ngày càng nhiều những xí nghiệp ít quan trọng cũng theo đuôi di dời ra nước ngoài.
Những việc di dời mặc nhiên thì lại liên quan đến các mặt hàng mới, được sản xuất trực tiếp từ nước ngoài, nhưng cũng có thể được sản xuất tại Pháp. Loại di dời này thường xuyên bị bỏ quên bởi các cuộc nghiên cứu phân tích vấn đề (mà người ta có thể gọi là “phi-di-dời”). Các cuộc di dời này không kéo theo việc mất việc làm, nhưng lại là nguyên nhân của một việc “mất ăn” đối với công ăn việc làm. Để có thể hiểu vấn đề, ta thử lấy lĩnh vực điện tử của Pháp.
Từ năm 1993 trở đi, số việc làm trong lĩnh vực điện tử đi từ 500 000 xuống còn 220 000, và có thể xuống dưới 100.000 từ đây cho đến 2008. Đây là những mất mát có thể tính được nhưng chỉ cho thấy một bức tranh nhỏ trên sự tác động của việc di dời cơ sở sản xuất đối với công ăn việc làm. Thật thế, nếu ta suy nghỉ đào sâu một tí, người ta nhận ra rằng không những mất mát về công ăn việc làm, mà thực tế lại càng tồi tệ hơn. Khi lĩnh vực điện tữ bắt đầu bị cho di dời sản xuất vào đầu những năm 1970, thì là cả một động lực di dời được hình thành, liên quan đến không những sản phẩm điện tử hiện hữu vào thời kỳ cũng như những sản phẩm sẽ đến trong tương lai, nghĩa là chưa xuất hiện vào những năm 1970: chẳng hạn các máy tính cá nhân PC, các đầu đọc đĩa CD và DVD, các điện thoại di động, các máy hình và camera kỹ thuật số, và vô số các sản phẩm mà các hộ gia đình và xí nghiệp sẽ mua sắm (máy chiếu video, hàn thử biểu, đồng hồ báo thức, v.v..). Lẽ dĩ nhiên việc sản xuất các mặt hàng vừa kể trên không có ở nước Pháp, nhưng cũng có thể sản xuất tại Pháp, đem lại công ăn việc làm cho dân Pháp. Nói tóm lại, việc di dời sản xuất các sản phẩm điện tử ra nước ngoài đã cản trở việc tạo ra công ăn việc làm mới cho dân Pháp. Ngoài những công ăn việc làm đã bị cho biến mất phải kể thêm những công ăn việc làm đáng ra được tạo ra ngay trên đất Pháp thì nay được thay thế bởi công nhân nước ngoài. Nghĩa là, việc di dời công nghiệp điện tử không những là nguyên nhân trực tiếp của việc mất đi nghiêm trọng công ăn việc làm mà còn là nguyên nhân quan trọng của việc “mất ăn” không tạo ra được công ăn việc làm cho dân chúng Pháp.
4 Những lý lẽ tán thành di dời cơ sở sản xuất
Trước những lo lắng ngày càng tăng của dân chúng liên quan đến việc di dời cơ sở sản xuất, các nhà vận động hành lang tân tự do mậu dịch đưa ra những lý lẽ giúp trình bày việc di dời dưới những khía cạnh tốt đẹp nhất. Một bài báo với tựa đề “Démystifier les délocalisations” (vén màn lừa lọc của di dời cơ sở sản xuất) được xuất hiện trong tạp chí của Quỷ tiền tệ quốc tế IMF, và cũng là một trong những mục tiêu của bản báo cáo của Francis Grignon gởi cho quốc hội Pháp. Các lý lẻ đưa ra bàn đến những khía cạnh kỹ thuật và lý thuyết, cố tình giảm thiểu tác động của việc di dời cơ sở sản xuất đối với công ăn việc làm, hoặc biện minh cho việc di dời bằng cách cho thấy những khía cạnh tích cực đối với việc tăng trưởng kinh tế.
Việc bù trừ giữa những mất mát và tạo công ăn việc làm
 Đối với IMF, “nhìn chung thì việc di dời cơ sở sản xuất có vẽ không đưa đến việc mất mát rõ ràng công ăn việc làm, vì những công ăn việc làm bị đánh mất trong một lĩnh vực nào đó thường xuyên được bù trừ bởi việc tạo ra công ăn việc làm mới trong các lĩnh vực khác đang tăng trưởng”. Lý lẽ này dựa trên 2 việc quan sát: người ta nhận thấy là có một sụt giảm công ăn việc làm trong lĩnh vực công nghiệp và trong lúc ấy có một nhu cầu tăng công ăn việc làm trong lĩnh vực dịch vụ.
Ở đây người ta làm như công ăn việc làm trong lĩnh vực đối ứng là được tạo ra nhờ việc di dời cơ sở sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp. Người ta có thể cho rằng một vài công việc (một vài công việc được tạo ra do giá hàng đầu tư rẻ xuất xứ từ việc di dời, hoặc vài công việc khác trong phân phối), nhưng phần lớn các công ăn việc làm được tạo ra trong lĩnh vực dịch vụ cũng có thể được tạo ra như thế khi không có di dời các cơ sở sản xuất. Có lẽ ngược lại là không có giảm sút thu nhập do việc di dời người ta có thể lô gic nghĩ rằng nhu cầu nội địa về tiêu thụ đối ứng có thể là quan trọng, nghĩa là gây ra việc tạo công ăn việc làm nhiều hơn trong tất cả các lĩnh vực.
Ngoài ra, nếu đúng là nhiều công ăn việc làm đã được tạo ra trong lĩnh vực dịch vụ trong nhiều thập kỷ qua, thì trong tương lai sẽ ra sao? Các công ăn việc làm dịch vụ được tạo ra ở Pháp năm 2005 không đủ bù những công ăn việc làm đã bị mất đi trong công nghiệp, và những dự kiến cho thấy trong tương lai việc di dời các cơ sở sản xuất lại càng tăng trong lĩnh vực dịch vụ này.

Cân bằng cán cân thương mại ngoại thương

Chính qua trung gian thương mại thế giới mà sản xuất từ nước ngoài (xuất phát từ di dời) đã thâm nhập vào nước Pháp, và tác động của việc di dời cơ sở sản xuất xuất hiện không tránh khỏi trong thống kê.
Biểu đồ trang trước cho thấy đường biểu diễn xuất nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp từ 1978 trở đi đối với nước Pháp, tính theo tỉ euro (Nguồn tin: Viện thống kê INSEE). Như theo biểu đồ, tính theo trị giá hàng hóa các đường biểu diển cho thấy hầu như giống nhau. Từ 1978 trở đi, nhìn chung cán cân thương mại ngoại thương của Pháp là khá cân bằng, và theo biện luận của phái tân tự do mậu dịch, thì sự cân bằng thường được sử dụng như là lý lẻ cho việc di dời cơ sở sản xuất. Các đường biểu diễn cho thấy là sự tăng trưởng của nhập khẩu, kể cả những mặt hàng đến từ việc di dời, sẽ được bù trừ bởi sự tăng trưởng của xuất khẩu, với ý nói là những công ăn việc làm bị mất đi do di dời cơ sở sản xuất sẽ được bù trừ bởi những công ăn việc làm được tạo ra bởi sản xuất cho xuất khấu.
Trước tiên, ta có thể thấy là biểu đồ trên chỉ cho thấy trị giá hàng hóa, chứ không cho biết số công ăn việc làm tương ứng với việc sản xuất ra số hàng hóa này (đúng thế!!!). Nếu nhập khẩu Pháp chỉ đến từ những nước mà giá cả công việc tương đương với giá cả tại Pháp, thì cán cân thương mại nhìn chung là gần cân bằng trong 30 năm qua, về mặt trị giá trao đổi cũng như số lượng công ăn việc làm dùng để sản xuất các mặt hàng được trao đổi này. Ngược lại, tình hình sẽ khác đi nếu hàng hóa được nhập từ các nước đang phát triển theo đấy giá tiền công là rất thấp.
Thật thế, giữa một tỉ euro hàng hóa được sản xuất tại Pháp, và một tỉ euro hàng hóa được sản xuất tại một nước có giá nhân công rẻ mạt, thì số lượng công ăn việc làm được tính đối với 2 loại sản xuất (nội địa và nước ngoài) sẽ không là giống nhau. Vì rằng có sự khác biệt khá lớn liên quan đến giá phí công việc, nên dựa trên một trị giá hàng hóa bằng nhau, thì một số lượng hàng hóa được nhập từ một nước đang phát triển (giá nhân công rẻ mạt) sẽ bao gồm nhiều thời gian hơn, nghĩa là công ăn việc làm, so với số lượng tương đương hàng hóa được sản xuất tại Pháp. Một khi mà ta bắt đầu làm ăn buôn bán với một nước đang phát triển, sự cân bằng về mặt trị giá hàng hóa trên cán cân thương mại tương ứng trong thực tế là một việc mất đi công ăn việc làm. Trong phạm trù hiện tại, và dựa trên quan điểm công ăn việc làm thì cân bằng cán cân thương mại ngoại thương không phải là một chỉ báo cân bằng, mà ngược lại là một chỉ dẫn cho thấy một mất cân bằng. Tình hình càng nguy hiểm hơn là khi các hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển ngày càng lớn hơn.
Trong thực tế, thương mại ngoại thương Pháp đã đánh dấu một thâm hụt thương mại đến 26,459 tỉ euro vào năm 2005, trong khi ấy vào năm 2004 chỉ là 8,284 tỉ euro, còn năm 2011 là 71,240 tỉ euro, nghĩa là năm sau cao hơn năm trước.

Tái cấu trúc và di dời cơ sở sản xuất ra nước ngoài
Việc tái cấu trúc là thật sự căn nguyên đầu tiên được biết đến của việc giảm bớt công ăn việc làm, và cũng là một lý lẽ đưa ra dễ dàng bởi các nhà kinh tế tự do để cố gắng giảm thiểu tác động của việc di dời các cơ sở sản xuất ra nước ngoài đối với việc mất việc làm. Như vậy câu hỏi được đặt ra giữa tái cấu trúc xí nghiệp và di dời hiện có một mối liên hệ hay không? Tại sao một xí nghiệp có nhu cầu phải tái cấu trúc?
Thông thường, người ta cho tái cấu trúc một xí nghiệp là để cải thiện hiệu suất lao động, để giảm giá thành sản xuất, nghĩa là tăng khả năng cạnh tranh. Tất cả là vì áp lực cạnh tranh, và cuối cùng cũng là muốn giữ hoặc tăng vị thế trên thị trường. Việc tái cấu trúc vừa là những nguyên nhân và vừa là hậu quả của việc tăng năng xuất sản xuất:
Là nguyên nhân, vì một xí nghiệp muốn tái cấu trúc nhắm vào một năng suất sản xuất tốt hơn.
Là hậu quả, vì xí nghiệp tái cấu trúc như vậy có thể cạnh tranh nỗi trước sự tăng hiệu suất sản xuất của đối thủ cạnh tranh.
Để cố gắng chống lại sự cạnh tranh mạnh mẽ của các quốc gia đang phát triển, các xí nghiệp thuộc các quốc gia phát triển không còn lựa chọn nào khác. Vì sự hiện hữu của một nền sản xuất bị di dời ra nước ngoài làm áp lực lên các xí nghiệp Pháp, do đó đẫy các xí nghiệp vào việc phải tái cấu trúc. Do đó, hiện có một mối liên hệ nhân quả rất mạnh giữa tái cấu trúc và di dời cơ sở sản xuất. Việc mất nhiều công ăn việc làm do tái cấu trúc thật sự là do việc di dời cơ sở sản xuất ra nước ngoài.
Khi một xí nghiệp Pháp bỏ rơi một cơ sở gia công nội địa của mình để chọn lấy một cơ sở gia công Trung Quốc có giá gia công “rẻ thúi”, và cơ sở gia công nội địa buộc lòng phải tái cấu trúc và sa thải nhân công, thì căn nguyên chính của việc tái cấu trúc ở đây chính là việc di dời cơ sở sản xuất ra nước ngoài?. Và đây cũng chính là lý do khi nhà phân phối thay thế nhà cung cấp nội địa bởi những nhà cung cấp của các nước đang phát triển.
Hiện tượng tái cấu trúc và hiện tượng di dời cơ sở sản xuất như vậy phần lớn liên đới với nhau, và muốn đưa ra lý do tái cấu trúc chẳng qua là chủ yếu giảm thiểu tác động của những di dời cơ sở sản xuất, và đây là cách đánh lạc hướng dư luận hơn là một thực tế có thể định lượng được.

Việc di dời cơ sở sản xuất đã tạo công ăn việc làm cho các nước nghèo
Lý lẽ trên cho thấy 2 khía cạnh của vấn đề: một khía cạnh mang tính đạo đức, và khía cạnh kia mang tính kỹ thuật. Theo khía cạnh đạo đức, thì lý lẽ này muốn khơi dậy tình cảm tội lỗi. Các công ăn việc làm được tạo ra nhờ việc di dời cơ sở sản xuất đã đem lại lợi ích cho những nước nghèo hơn nước Pháp, như vậy sẽ giảm đi sự bất bình đẵng giàu nghèo trên thế giới, do đó chỉ những ai ích kỹ mới buồn lòng về việc di dời cơ sở sản xuất. Tuy nhiên, nếu ta quan sát thực tế thì thấy đây là một lý lẽ rất đạo đức giả. Đúng là việc di dời cơ sở sản xuất của các nước giàu đã đem lại lợi tức cho dân các nước nghèo, nhưng trong điều kiện nào? Đây là những công ăn việc làm ít tốn kém nhất đối với xí nghiệp, giá tiền lương thường xuyên ở thấp nhất trong thang lương bản địa, và cũng như thế đối với điều kiện làm việc của công nhân. Năng suất lao động ở các nước phát triển bao giờ cũng cao hơn so với các nước chậm tiến, nhưng cũng chả sao vì thời gian làm việc sẽ dài hơn tại các nước kém phát triển này. Nền kinh tế gia công hoạt động dựa trên những điều kiện mất an toàn và vệ sinh tồi tệ trong công việc của công nhân, đây chưa nói đến những phế thải làm ô nhiểm môi trường đối với dân chúng sống xung quanh. Các yếu tố vừa kể trên cho thấy tính tương đối về những lợi ích mà việc di dời đem lại cho dân bản địa.
Khía cạnh kỹ thuật của lý lẽ trên dựa trên mối liên hệ giữa các công ăn việc làm được tạo ra trong các nước đang phát triển và những công ăn việc làm được tạo ra trong các xí nghiệp xuất khẩu của Pháp. Khía cạnh này khớp với lý lẽ trước đây liên quan đến sự cân bằng của cán cân ngoại thương. Đúng đấy, khi người ta đổi những chiếc máy bay để lấy áo sơ mi, thì người ta cũng tạo ra công ăn việc làm trong ngành kỹ nghệ hàng không. Việc di dời cơ sở sản xuất áo sơ mi như vậy về mặt tổng thể cho phép tạo ra công ăn việc làm. Ngược lại, vì rằng sự khác biệt về giá nhân công giữa các quốc gia giàu nghèo, thì quốc gia sản xuất máy bay sẽ tạo ít công ăn việc làm nội địa, trong khi mất đi khá nhiều công ăn việc làm khi di dời cơ sở sản xuất áo sơ mi. Nói tóm lại, việc tạo ra công ăn việc làm tại các nước đang phát triển nhìn tổng thể thường kéo theo việc mất đi công ăn việc làm tại các quốc gia giàu có, như Pháp.
Ngoài ra, khi hàng hóa nhập khẩu đến từ những nước đang phát triển, như Trung Quốc chẳng hạn, thì xảy ra một sự mất cân bằng các cân ngoại thương thiên về các nước này, do đó những công ăn việc làm được tạo tại các nước nghèo xuất khẩu sẽ tương ứng với những công ăn việc làm bị mất đi tại các giàu nhập khẩu. Việc di dời cơ sở sản xuất rốt cuộc chỉ là việc chuyển giao công việc giữa các nước giàu qua các nước nghèo, chứ chả tạo công ăn việc làm thêm bao nhiêu; người ta lột quần thằng Tèo đem bận cho thằng Mít, không đem lại cho anh sau này cùng loại áo quần cũng như cùng quyền hạn.

Các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI (foreign direct investment)
Từ lâu, các lý lẽ của các nhà kinh tế tân tự do mậu dịch đưa ra thường dùng các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI (tiếng Pháp là IDE – Investissement direct étranger) như là những người vô tội trong hiện tượng di dời cơ sở sản xuất, như là việc họ đưa vốn vào các nước chậm phát triển là để sản xuất cho thị trường bản địa. Tuy nhiên, thực tế chuyện Trung Quốc cho ta thấy rõ là không phải như thế. Nói vậy mà không phải là vậy. Trong báo cáo của “Dreyfus-Novelli”, thuộc Ũy ban tài chính Pháp, người ta giải thích: “Thật sự người ta không thể hiểu việc phát triển vượt bực nên ngoại thương Trung Quốc nếu không quan tâm đến vai trò trung tâm của các xí nghiệp ngoại quốc …Đầu tư ngoại quốc là phần quyết định đối với sự thành công trong tiến trình mở cửa (của Trung Quốc) ra thế giới bên ngoài khởi đi từ 1978. Các nhà đầu tư FDI đã xuất hiện một cách có ý nghĩa từ giữa những năm 1980, trước khi cất cánh từ 1993 trở đi, cuối cùng đứng đầu thế giới … Tỉ trọng vốn của các nhà đầu tư FDI ngoại quốc (phần lớn là châu Á) trong xuất khẩu của Trung Quốc tiếp tục tăng lên từ 20% năm 1992, tương đương ngày nay vào khoảng 57%”.
Một phần lớn các nhà đầu tư FDI đều liên quan đến những sản xuất bị di dời, và khi phần của FDI tăng lên trên các quốc gia đang phát triển, thì việc sản xuất tại các nước giàu theo đó mà ra đi, và như vậy công ăn việc làm sẽ biến mất tại các nước giàu phát triển. Một lý lẽ biện minh cho FDI là bảo rằng FDI cũng tạo ra công ăn việc làm tại Pháp và cho phép duy trì các công ăn việc làm khác. Chỉ đúng một phần, nhưng cũng đúng là FDI cũng đã hũy hoại các công ăn việc làm. Ta thử lấy thí dụ xí nghiệp Nadella, đặc biệt nhà máy ở Vierzon (Pháp). Nhà máy này sản xuất vòng bi được mua lại bởi một công ty Hoa Kỳ Timken vào năm 2003. Việc mua bán này là một FDI không tạo ra hoặc duy trì một công ăn việc làm nào đối với nhà máy. Vào năm 2006, ban giám đốc cho rằng nhà máy không đủ khả năng cạnh tranh nên đã dẹp bỏ 160 công việc, gần một nửa số công nhân nhà máy. Nhiều công nhân cộng hòa Séc đến nhà máy, yêu cầu công nhân củ còn lại của nhà máy chỉ cho họ cách hoạt động của các máy móc, rồi cho tháo gỡ chuyển về nhà máy của họ cũng thuộc nhóm Timken. Như vậy FDI này không những không tạo ra công ăn việc làm mà còn đang phá bỏ nhà máy. Trò đùa của câu chuyện là chính thức đây là một sa thải kinh tế, minh chứng bởi một kết thúc hợp đồng sản xuất cho một nhà sản xuất xe hơi, và những công ăn việc làm bị mất đi không được xem như là kết quả của việc di dời cơ sở sản xuất.
Một thí dụ được biết đến rộng rãi là trường hợp xí nghiệp Daewoo (Hàn quốc), được đầu tư tại Pháp, lợi dụng sự trợ cấp của Pháp, rồi biến mất tăm. Trước khi đưa ra lý lẽ là những FDI tạo và duy trì công ăn việc làm ở Pháp, ta cũng phải để ý đến sự hiện hữu lâu năm của xí nghiệp, tính đến những công ăn việc làm bị cắt bỏ trong ngắn hạn, cộng theo những công ăn việc làm bị mất đi bởi các xí nghiệp quốc gia trong cùng ngành, Thế là người ta nhận ra rằng FDI có một tác đụng rất hạn chế trong việc tạo ra công ăn việc làm, không bù trừ chi cả những mất mát xảy ra tại các FDI trong các nước xuất khẩu đang phát triển.
Các lý lẽ lý thuyết
Loại biện luận này kêu gọi đến những lý thuyết kinh tế mà các nhà tư tưởng tân tự do thường xuyên dựa vào. Như bản báo cáo Grignon đã xác nhận: “việc di dời cơ sở sản xuất công nghiệp đã đến độ chín mùi, theo đấy sự cạnh tranh được biểu diễn thực chất theo giá cả là lẽ tự nhiên và hợp lý về mặt kinh tế”. Ở đây, người ta tìm thấy lại khái niệm về “lẽ tự nhiên”, không có tuyệt đối là hợp lý. Các nguyên tắc hoạt động của các hệ thống kinh tế thường dựa vào những chọn lựa chính trị, vào những luật lệ xã hội, chứ không dựa trên những luật lệ tự nhiên. Phương thức sản xuất tư bản còn ít tự nhiên hơn so với những phương thức sản xuất đi trước. Nó được dựa trên lợi nhuận của tiền bạc, và hiện tượng di dời cơ sở sản xuất là một hệ quả của nhu cầu kiếm lời này. Do đó, việc di dời các cơ sở sản xuất nằm đúng trong khuôn khổ lô gic của phương thức sản xuất tư bản, cho nên hiện tượng này thật lô gic trong hệ thống tư bản, cho nên không tự nhiên chút nào và chũ nghĩa tư bản cũng thế.
Cho rằng việc di dời cơ sở sản xuất là “hợp lý về mặt kinh tế” chẳng qua là một cái nhìn một chiều về kinh tế: là kinh tế nhìn theo ống nhòm của các cổ đông. Việc xác nhận là đây là “những mặt hàng công nghiệp đã đến độ chín mùi” cũng không thể thay đổi sự nhỏ nhoi của quan điểm này. Có gì là hợp lý khi phải tiêu hao năng lượng để chuyên chở hàng hóa mà ta có thể sản xuất tại chổ? Có gì là hợp lý khi cho hủy bỏ những đầu tư (nhà cửa, nhà máy, v..v) và cho hằng ngàn nhân công thất nghiệp ra đường, chỉ vì lý do duy nhất là làm vừa lòng một vài cổ đông nắm quyền chi phối tại xí nghiệp. Ở đây ta không còn trong một cuộc tranh luận hợp lý mà là một định đề tư tưởng.
Để biện minh cho việc di dời cơ sở sản xuất, các lý thuyết gia tự do dựa trên những cuộc trao đổi quốc tế của kinh tế gia David Ricardo (1772-1823). Theo lý thuyết này, thì những cuộc trao đổi là có lợi cho đôi bên (ta thường gọi là “hai bên đều có lợi”) , và như vậy là chuyện bình thường khi 2 quốc gia sẽ chuyên môn vào một lĩnh vực đặc biệt nào đó (mà mình có khả năng). Tuy nhiên, lần hồi khi hiện tượng di dời cơ sở sản xuất ngày càng bành trướng, đi từ lĩnh vực công nghiệp, qua dịch vụ rồi kết thúc vào R&D, thì hỗ trợ lý thuyết này ngày càng xa rời thực tế. Lý thuyết trao đổi giả định chuyên môn hóa giữa các đối tác vào những lĩnh vực sản xuất khác nhau. Lý thuyết có thể phần nào giữ được tính thích đáng nếu việc di dời cơ sở sản xuất chỉ liên quan đến sản xuất công nghệ thấp, so với những sản xuất công nghiệp đã đến độ chín mùi. Các nước phát triển có thể giữ lại hoặc tăng trưởng hoạt động của mình, nghĩa là tạo công ăn việc làm, trong những lĩnh vực sáng tạo về mặt công nghệ. Nhưng cuối cùng thì tính thích đáng biến mất khi việc di dời lan ra toàn bộ các lĩnh vực sản xuất kể cả R&D. Việc trao đổi giờ đây diễn ra một chiều và lý thuyết Ricardo đã mất hết ý nghĩa.

5 Các hậu quả đối với công ăn việc làm
Nếu việc di dời cơ sở sản xuất là một hiện tượng kéo theo chắc chắn những sa thải công nhân, thì việc kiểm số của những công ăn việc làm bị mất đi không phải là chuyện dễ dàng. Nếu liên quan đến những di dời trực tiếp, thì số liệu phần nào đã được kiểm kê và đánh giá. Một bản nghiên cứu của Patrick Aubert và Patrick Sillard ước tính là trong khoảng thời gian từ 1995 đến 2001, số công ăn việc làm bị di dời chỉ trong lĩnh vực công nghiệp ở Pháp thì trung bình là 13.500/năm, nghĩa là 79.000 đối với thời kỳ được nghiên cứu. Bản nghiên cứu cho thấy rõ những khó khăn về phương pháp luận để kiểm số của việc mất mát công ăn việc làm nên chỉ đưa ra những ước tính xấp xĩ. Tuy nhiên, đây chỉ là những mất mát do việc di dời trực tiếp liên quan đến lĩnh vực công nghiệp. Còn đối với những công ăn việc làm bị mất đi do di dời gián tiếp và mặc nhiên thì sao?
Rõ ràng là con số này khó lòng ước tính, vì rằng di dời là một hiện tượng “thấp lè tè” (rampant), và trong nhiều trường hợp khó lòng biết được những vụ sa thải là hệ quả của những tái cấu trúc tiếp theo sau những tiến bộ kỹ thuật, hay là một vụ quản lý xí nghiệp tồi tệ, hay đơn giản là chuyển sản xuất về phía các quốc gia đang phát triển.
Việc di dời cơ sở sản xuất qua các quốc gia đang phát triển cho phép họ xuất khẩu, nghĩa là thu hồi ngoại tệ, đổi lại cho phép họ nhập khẩu những sản xuất từ các quốc gia giàu. Tuy nhiên, vì khác biệt về giá nhân công sẽ không có sự cân bằng trong số lượng công ăn việc làm mất đi trong các quốc gia phát triển vì lỳ do di dời so với số công ăn việc làm được tạo ra để xuất khẩu. Nhìn chung theo khía cạnh toàn thế giới, thì việc toàn cầu hóa sản xuất đã tạo ra công ăn việc làm: nhiều tại các quốc gia đang phát triển hơn là tại các quốc gia tiến triển, và số việc làm được tạo ra trong các quốc gia phát triển không bù được những công ăn việc làm đã bị mất đi do di dời cơ sở sản xuất. Cuối cùng thì cũng phải công nhận việc di dời là nguyên chính trong việc chuyển công ăn việc làm từ các quốc gia phát triển qua các quốc gia đang phát triển.
Nói tóm lại, nên chuyển việc kiểm số các công ăn việc làm bị mất đi qua việu nghiên cứu sâu rộng các mặt hàng được trao đổi với các quốc gia đang phát triển, quan tâm đến số lượng công việc được gắn liền với mỗi loại mặt hàng. Vì có khá nhiều mặt hàng nên sự phức tạp của việc nghiên cứu giãi thích vì sao không có một cuộc nghiên cứu nào như thế. Tuy nhiên, người ta có thể ước tính mà không thể nhầm lẫn là hằng trăm ngàn công ăn việc làm đã bị mất đi ở Pháp vì lỳ do di dời cơ sở sản xuất. Và ta không thể không lo ngại về việc mất đi công ăn việc làm trong tương lai khi việc chuyển giao sản xuất ngày càng tăng.

6) Trung Quốc trong kinh tế thế giới
Vào năm 1978, các xí nghiệp tại các nước phát triển chứng kiến việc mở cửa kinh tế của Trung Quốc là một cơ hội hội nhập rất lớn. Một thị trường một tỉ người được mở cho các xí nghiệp này, cho phép họ tìm thấy sự tăng trưởng và lợi nhuận ngày càng kém đi tại nội địa. Đầu tư ngoại quốc nhanh chóng ồ ạt đổ vào Trung Quốc ngày càng lớn từ tháng 12/1990 trở đi.
Tuy nhiên, để vào được Trung Quốc, các xí nghiệp Âu Mỹ phải thích nghi với những thủ tục hành chính nhiêu khê, làm giảm đi khả năng tăng trưởng đối với thị trường nội địa, các xí nghiệp âu mỹ buộc lòng phải liên doanh với các xí nghiệp bản địa, theo đấy họ phải nhượng quyền vào các công nghệ âu mỹ. Để bù lại, họ có thể hưởng lợi trên giá nhân rẻ và phí tổn đầu tư thấp, và làm tràn ngập thế giới với những hàng hóa được sản xuất giá rẻ. Phần xí nghiệp vốn ngoại quốc trong xuất khẩu tăng nhanh vào khoảng 60% vào năm 2006.
Những cuộc di dời cơ sở sản xuất về Trung Quốc liên quan đến việc sản xuất và những công nghệ sản xuất chín mùi. Nhanh chóng việc di dời lan qua các công nghệ mũi nhọn và những công nghệ tiên tiến mới nhất. Cuối năm 2004, đã có đến 700 trung tâm nghiên cứu và phát triển R&D xuất xứ từ các công ty đa quốc gia.
Sự tăng trưởng Trung Quốc bước những bước tiến khổng lồ, đạt đến vào khoảng tỉ lệ 10% kể từ 2004, ít nhất theo chính thức vì các kinh tế gia nghi ngờ tính trung thực của các thống kê bản địa nên cho biết vào khoảng 16%. Phần xuất khẩu tượng trưng cho 23% GDP vào năm 2000, nay đã vượt quá 30% GDP. Số tiền đầu tư, ngoại quốc cũng như nội địa tăng mạnh, bị kích thích bởi thặng dư lớn của cán cân thương mại ngoại thương được biết đến với sự tăng trưởng gần 26% vào năm 2006. Trung quôc trải qua một động lực tăng trưởng nhanh trong sản xuất công nghiệp, theo đấy 3/4 là dành cho xuất khẩu. Loại sản xuất này ngày càng đi lên phía mũi nhọn hàm lượng công nghệ cao, được chính quyền cố tình nâng đở bằng cách gần đây giảm đi thuế trong lĩnh vực này.
Sản xuất công nghiệp của Trung Quốc được tăng cường trong mọi lĩnh vực. Dựa theo lý thuyết trao đổi tự do những lợi ích so sánh được, nếu các quốc gia muốn tìm lợi ích trong việc trao đổi mậu dịch, thì mỗi bên phải cố gắng chuyên môn hóa những lĩnh vực sản xuất nào có lợi nhất cho mình, thì Trung Quốc tăng cường sự hiện diện của mình hầu như trong mọi ngành công nghiệp. Với đồng lương được duy trì bởi một chính sách cứng rắn, công nghệ sản xuất của Trung Quốc đã có một chất lượng tương đồng trong nhiều lĩnh vực với chất lượng của các nước tiên tiến, và khả năng chuyên mộn của các kỹ sư mà Trung Quốc đã đào tạo số lượng lớn, đã cho phép kỹ nghệ Trung Quốc không những có những lợi thế so sánh mà còn một lợi thế tuyệt đối. Người ta đã đi ra ngoài những chỉ tiêu thông thường của các lý thuyết trao đổi mậu dịch tự do, cũng như ngoài các mô hình phát triển thông thường, người ta đang ở trong một tình trạng chưa hề có một tương đương.
Những quốc gia không phát triển về mặt công nghệ từ trước đến nay thường bằng lòng trao đổi các nguyên liệu thô hoặc hàng nông sản với các quốc gia giàu. Và họ thường buộc trả tiền vay trước đó, do đó bị giới hạn trong khả năng đầu tư và như thế lệ thuộc rất nhiều vào các công ty đa quốc gia hoặc vào các định chế tài chính lớn. Việc này thì không đúng với trường hợp Trung Quốc. Dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc cứ tăng lần theo xuất khẩu, và đã vượt quá 1000 tỉ USD vào năm 2006, còn năm 2010 là 2.400 tỉ USD chiếm 30% dự trữ thế giới. Phần lớn dự trữ này được giữ dưới dạng công khố phiếu Hoa Kỳ, do đó Trung Quốc tự do trong các lựa chọn kinh tế và tiền tệ. Hoa Kỳ đòi Trung Quốc hạ giá đồng nhân dân tệ không biết bao nhiêu lần mà vẫn chưa được. Một phần khác dự trữ này được đem đi mua các xí nghiệp ngoại quốc, cho phép Trung Quốc có được sự thành thạo không mất công làm cho khả năng xuất khẩu ngày tăng cao. Chắc bạn còn nhớ vào năm 2004, hãng máy tính hàng đầu Lenovo của Trung Quốc đã mua lại bộ phận PC của IBM (Mỹ) với giá 1,25 tỉ USD. Vụ mua bán này cho phép Trung Quốc thực hiện được một doanh thu lên đến 10 tỉ USD
Các mặt hàng "made in China" tràn ngập ngày càng nhiều thị trường thế giới, và người ta không biết đến bao giờ thì cơn sóng này sẽ ngừng. (đến đây người dịch liên tưởng đến một lời cảnh báo của hoàng đế Pháp Napoleon vào đầu năm 1800: “châu Âu sẽ bị lũ chìm bởi dân da vàng này”. Dân tàu không thấy đâu, chứ hàng tàu thì đúng là một trận lũ quét tràn ngập chấu Âu.). Cán cân ngoại thương của các nước phương tây ngày càng xuống thấp, một vài nước đã đi vào vùng đỏ (nghĩa là nhập siêu), Hoa Kỳ vào giữa các năm 1990, Pháp từ 2004 trở đi. Sự mất cân bằng ngày càng trầm trọng không biện pháp giải cứu. Khi Trung Quốc mở cửa người ta tưởng rằng sẽ có lợi cho kinh tế các nước giàu, thì nay là một cơn ác mộng. Thế giới các nước Âu Mỹ đang tùy thuộc sâu vào sản xuất Trung Quốc.
Mô hình kinh tế Trung Quốc thường được cho là không chịu nỗi. Tỉ trọng tiết kiệm của Trung Quốc rất cao, đi từ 38% GDP đến 54% GDP giữa năm 2000 và 2006, nên kìm hãm lại việc tiêu thụ nội địa (thật ra, đây là đặc tính tiết kiệm của dân châu Á chứ đâu phải là một chính sách kìm hãm chi tiêu của chính phủ đối với dân chúng) để cho phép tiến quan Pháp có thể cất cánh trong sự phát triển nội địa. Tại Trung Quốc, sự bất bình đẳng kinh tế và xã hội ngày càng sâu đậm, cho nên một số nhỏ người giàu càng giàu thêm trong khi phần lớn dân nghèo không được hưởng lợi của sự phát triển sản xuất (người dịch không tin mấy về điều này). Đầu tư quá mức sẽ nãy sinh rũi ro sản xuất thừa, cũng như mức độ ô nhiểm đã lên cao tột đĩnh. Những ai lạc quan tán thành chũ nghĩa trao đổi mậu dịch tự do bao giờ cũng khẳng định là các vấn đề này sẽ được giải quyết, với điều kiện là Trung Quốc phải chơi trò trao đổi mậu dịch tự do, nghĩa là phải mở cửa thị trường nội địa cho hàng ngoại, và điều chỉnh tỉ giá hối đoái của nhân dân tệ. Tuy nhiên, dựa trên vị trí thượng phong của mình trong kinh tế toàn cầu, thì không chắc gì có thay đổi. Trong diễn biến tốt người ta có thể hy vọng là trong dài hạn, nhưng sự tăng trưởng nhanh của những mất cân bằng này thì vấn đề phải được giải quyết trong trung hạn. Nếu mô hình kinh tế Trung Quốc là không chịu nỗi, thì nó càng ngày không chịu nỗi không những đối với Trung Quốc mà là cho toàn thể kinh tế toàn cầu và nhất là đối với các nước phát triển.

 7 Các câu trả lời là ở đâu ?
Câu hỏi về việc di dời cơ sở sản xuất ngày càng sẽ quan trọng, lớn lần hồi khi việc toàn cầu hóa tiếp tục. Câu hỏi này đã được đưa ra trong chiến dịch trưng cầu dân ý của Constitution Europeene (tổ chức châu Âu), là đề tài của một sự không hài lòng của dân chúng chất vấn các đãng chính trị, nghiệp đoàn, hội đoàn công dân, hiệp hội, v.v.. Các kiểu trả lời là lô gic khác nhau tùy thuộc vào lợi ích chính trị hoặc kinh tế của những đãng chính trị khác nhau.
Các câu trả lời của phe tự do mậu dịch dựa trên sự đồng thuận di dời cơ sở sản xuất, như là một hiện tượng không thể tránh khỏi và tích cực một cách tổng thể đối với kinh tế toàn cầu. Như vậy, không nên cản trở việc di dời, mà ngược lại phải thử lợi dụng tình hình mà kiếm lợi. Xin nhắc lại là, đối với phe tự do mậu dịch, những hàng hóa nhập khẩu từ những nước đang phát triển là đối ứng tự nhiên của những xuất khẩu qua các nước này, và những mất mát về công ăn việc làm chẳng qua chỉ là kết quả của việc ta không thích ứng với toàn cầu hóa. Để thoát khỏi rắc rối trong bối cảnh mới này, ta phải biết thích nghi để có thể cạnh tranh và có khả năng xuất khẩu dễ dàng.
Cạnh tranh cao có nghĩa là phải hạ giá bán của sản phẩm của ta, mục tiêu là phải sản xuất rẻ hơn đối thủ cạnh tranh (Trung Quốc trong trường hợp này). Đối với một xí nghiệp, việc hạ giá thành thực chất đòi hỏi giảm chi phí lương bổng, rồi tăng năng suất và giảm chi phí xã hội.
Tăng năng suất sản xuất đi đôi với việc tăng mức độ cơ giới hóa và năng suất của công nhân. Nó đi đôi với áp lực ngày càng tăng lên các điều kiện làm việc, và đòi hỏi xem lại việc làm 35 giờ/tuần ở Pháp, và các quyền lợi làm việc. Bản báo cáo Arthuis để nghị “gỡ bỏ những bảo vệ sai về quyền làm việc” vì đây là cái thắng trong việc tuyển dụng nhân công, mà ta phải gỡ bỏ từng cái một. Bản báo cáo đặt lại vấn đề liên quan đến những “cái ngưỡng dùng cấp những quyền mới và những bảo vệ mới đối với công nhân ăn lương” nhưng “thường là cản trỡ việc tuyển dụng nhân công”. Bản báo cáo đề nghị “khuyến khích ưu đãi tính lưu động về mặt địa lý của công nhân… một bất lợi kinh tế đối với những xí nghiệp trên lãnh thổ quốc nội và một yếu tố đặc biệt của việc di dời cơ sở sản xuất.”, và tiến hành “một uyển chuyển cần thiết những hợp đồng và giờ giấc làm việc.”
Liên quan đến việc giảm chi phí xã hội đối với các xí nghiệp (điều mà các nhà tuyển dụng gọi là những gánh nặng xã hội: thuế doanh nghiệp, phí đóng góp quỹ hưu trí, quỹ thất nghiệp, bảo hiễm xã hội), thì các chủ trương tự do đề nghị bải bỏ các chi phí hoặc là chuyển cho các hộ gia đình.
Tính cạnh tranh của các xí nghiệp quốc nội tùy thuộc vào khả năng đầu tư, và những đầu tư này phải là xuất xứ quốc nội. Trong chiều hướng này, các chính phủ theo thuyết tự do mậu dịch đưa ra những chính sách thuế có lợi cho giới cổ đông quốc nội. Việc cải tổ thuế thu nhập, có lợi cho những gia đình giàu có, cũng như giảm thuế của cải được xem như làm lợi cho xí nghiệp quốc nội thông qua cổ đông.
Các biện pháp tự do mậu dịch, không những không hiệu quả trong việc chống lại hiện tượng di dời cơ sở sản xuất, mà còn phát sinh ra cái mà người ta gọi là “phá già xã hội (dumping social)”. Nghĩa là “xếp hàng” theo về những chuẩn của những nước chậm tiến, như vậy đi đến một cuộc sụt hạng của các chuẩn mực kinh tế xã hội của chúng ta. Tính uyển chuyển, cuộc đua theo năng suất, việc sa thải dễ dàng nhân công đều là những sụt lùi chất lượng đối với nhân công quốc nội. Những miễn giảm thuế đối với các xí nghiệp và cổ đông có nghĩa là mất đi những hỗ trợ tài chính đối với việc tái phân bổ lợi tức xã hội. Nghĩa là ít tiền cho các quỹ hưu trí, quỹ thất nghiệp, cho y tế, giáo dục, cho bảo hiểm xã hội, cuối cùng là thêm những gánh nặng hoặc giảm thu nhập đối với tầng lớp người nghèo nhất. Các biện pháp của chính phủ Pháp bao gồm việc giảm những hoàn trả chi phí thuốc men, hoặc giảm tiền thất nghiệp, giảm các chức vụ giảng viên trung học và đại học, tăng học phí đại học, tư nhân hóa các cơ quan dịch vụ công cộng, trong bước đầu đã làm trầm trọng bất công xã hội. Các biện pháp này của chính phủ cộng thêm những biện pháp tự do mậu dịch khác đều đi về một hướng: đó là sự thoái hóa đời sống xã hội, sự trở về một khái niệm lạc hậu của xã hội theo đấy “phận ai nấy lo, Chúa lo cho mọi người” (chacun pour soi, Dieu pour tous) trên sự hưởng lợi toàn gói của những kẻ giàu sang.
Sự đáp trả của phe bảo hộ mậu dịch nhắm vào việc tiến hành những biện pháp chống lại việc di dời cơ sở sản xuất. Đây có thể là việc cấm di dời ra ngoài các cơ sở sản xuất, hoặc dựng lên những hàng rào thuế quan dưới nhiều hình thức: quota nhập khẩu, các qui định và tiêu chuẩn khắc khe hơn, hoặc những thuế khác nhau.
Trước tiên, ta để ý là việc cấm di dời cơ sở sản xuất chỉ liên quan đến việc di dời trực tiếp, và đây chỉ là một số nhỏ, vì thực chất là những di dời gián tiếp qua trung gian di dời gia công hoặc di dời phân phối. Do đó, cấm đoán này có rất ít hiệu lực đối với di dời cơ sở sản xuất. Ngoài ra, xí nghiệp nào cho di dời cơ sở sản xuất chẳng qua chỉ là để giảm giá thành sản xuất, tất cả trong một bối cảnh cạnh tranh khốc liệt, và việc năm nay xí nghiệp có lãi khi di dời không có nghĩa là sang năm xí nghiệp có thể lãi to không có khó khăn trong những năm tới. Việc cấm di dời có thể là một thiệt thòi rất nặng đối với xí nghiệp này, có khả năng làm trầm trọng thêm những khó khăn đi đến nguy cơ phá sản. Cuối cùng có thể là mất mát công ăn việc làm lớn hơn là việc cấm đoán muốn tránh.
Các biện pháp đánh thêm thuế vào hàng nhập khẩu, hoặc biện pháp hỗ trợ với tiền ngân sách cho các xí nghiệp quốc nội bị đe dọa bởi cạnh tranh giá thành thấp, nhắm vào việc giảm đi khác biệt giữa giá bán các hàng sản xuất bởi các xí nghiệp quốc nội và giá bán của hàng nhập khẩu. Những quota nhập khẩu, những “kiểu làm khó hành chính” có thể đem lại một ít dưỡng khí cho vài lĩnh vực sản xuất đang gặp khó khăn. Người ta có thể nghĩ ra vài loại thuế môi trường, hoặc thuế xã hội đối với những mặt hàng đến từ những quốc gia theo đấy các chuẫn xã hội là rất thấp, và ta có thể chờ đợi sự tưởng tượng phong phú của những ai ủng hộ biện pháp thuế tài chính cho ra vài loại thuế khác.
Tuy nhiên, ta phải để ý đến việc toàn cầu hóa là một tiến trình đã đi quá sâu, và việc di dời cơ sở sản xuất đã đưa đến việc giải tán công nghiệp hóa (désindustrialisation) quá đậm. Nhiều mặt hàng tiêu thụ gia đình đã không còn sản xuất tại Pháp (trong lĩnh vực điện tử), còn những mặt hàng khác về mặt quốc nội cũng chỉ được sản xuất cầm chừng so với mức tiêu thụ (máy điện tử gia dụng, đồ trang trí nội thất, mặt hàng giải trí). Việc lệ thuộc ngày càng nhiều hàng nhập khẩu làm cho phức tạp thêm việc đặt ra những hàng rào thuế quan.
Ta cũng nên nhớ nước Pháp là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cũng như tất cả các nước châu Âu và thế giới. Do đó, các biện pháp bảo hộ mậu dịch là đi sái luật của WTO. Các chính phủ Pháp, tả cũng như hữu đã ký những thỏa hiệp giúp trao đổi tự do mậu dịch hoạt động dễ dàng và loại bỏ những hàng rào thương mại. Hiện tượng di dời cơ sở sản xuất đã quá lớn để có thể chống trả lại bởi những phương pháp bảo hộ mậu dịch bằng cách tiến hành những biện pháp rất mạnh. Những sắc thuế bên lế chả có hiệu quả gì trước việc toàn cầu hóa sản xuất ngày không có gì là bên lề. Muốn thuế thật sự mang tính ngăn cản, thì mức độ thuế phải đủ lớn để loại bỏ sự khác biệt giá cả giữa hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa sản xuất nội địa, như vậy sẽ đưa ra thuế cao hơn là giá hàng nhập khẩu. Các biện pháp này sẽ bị WTO cũng như các định chế châu Âu trừng phạt, và sẽ dẫn đến những biện pháp trả đủa của các quốc gia bị thuế Pháp nhắm đến. Kết quả sẽ là sản xuất nội địa dành cho xuất khẩu sẽ gánh vác những tổn thất của một chính sách chính trị như thế. Cuối cùng thị phần của các lĩnh vực liên quan sẽ bị giảm xuống kéo theo việc tái cấu trúc với việc sa thải công nhân khó tránh khỏi. Việc này dẫn ta đến việc: hoặc trở lại thuyết tự do mậu dịch như hiện thời, hoặc lấy một quyết định quan trọng đầy rũi ro là đi vào “bế quan tỏa cảng” về mặt kinh tế và chính trị.
Muốn “tái định cư” (relocaliser), trước tiên phải xây dựng lại các cơ sở sản xuất, đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn. Ta có đủ phương tiện tài trợ hay không? Liên quan đến điện tử, ta có đủ hiểu biết (savoir-faire) về mặt kỹ thuật hay không? Việc tái định cư các nhà máy sản xuất sẽ đưa đến việc tăng giá bán các mặt hàng liên đới. Một máy pha cà phê 8 euro có thể sẽ bị đội giá lên đến 2 hoặc 3 lần, trong ngành dệt may cũng thế. Như vậy người ta sẽ đi đến một lạm phát cao đối với nhiều loại mặt hàng tiêu thụ bình dân, gây thiệt hại nặng đối với sức mua của các hộ gia đình. Do đó, những biện pháp này sẽ rất thất nhân tâm, và đây là sức mạnh của toàn cầu hóa có thể dựa trên lợi ích ngay liền của người tiêu thụ. Trong bối cảnh hiện tại, xem ra khó lòng lựa chọn việc bảo hộ mậu dịch, và không chính phủ nào lại dám theo con đường này.
Còn việc bảo hộ mậu dịch ở cấp chấu Âu thì thế nào? Đúng là đánh giá thấp sự việc là các định chế châu Âu rõ ràng là theo thuyết mậu dịch tự do, và định hướng này khó lòng thay đổi so với chánh phủ Pháp. Có những mâu thuẩn vì lợi ích quốc gia làm chận đứng tất cả các diễn biến cố tình hạn chế tự do mậu dịch. Nước Đức là một nước xuất khẩu mạnh nên không thấy có lợi ích nào cản trở việc trao đổi mậu dịch quốc tế. Khắp nơi tại châu Âu, người tiêu thụ hưởng lợi nhờ những mặt hàng nhập khẩu giá rẻ đến từ các nước đang phát triển. Ở cấp châu Âu, người ta lại tìm thấy cũng những trở ngại đối với bảo hộ mậu dịch ở cấp nước Pháp, cộng thêm một số khó khăn phụ. Ta có thể tưởng tượng một bảo hộ mậu dịch cấp chấu Âu còn có khó khăn hơn so với cấp nước Pháp. Đây là một dự án chỉ có thể giải quyết dài hạn, trong khi việc toàn cầu hóa sản xuất tăng tôc và sự mất cân bằng trong các cân thương mại ngày đậm một cách nhanh chóng.
Tuy nhiên, người ta có thể bảo rằng tương lai của việc toàn cầu hóa là rất bất định, và bối cảnh hiện tại sẽ không kéo dài lâu. Không hợp lý nào khi nghĩ rằng tiến trình giải tán công nghiệp hóa được biết đến có thể chịu đựng nỗi bởi hệ thống kinh tế của chúng ta, cũng như không lý nào những mất cân bằng do toàn cầu hóa sản xuất có thể tăng vô tận không đi đến một ngưỡng gãy đổ. Ta có thể nghĩ rằng, trong ngắn hạn, việc lựa chon con đường bảo hộ mậu dịch không chỉ có thể xảy ra mà thật khó tránh khỏi. Tất cả các điều này đã xảy ra trong 2 lần (năm 1830-1870, rồi năm 1918-1929) đột phá tự do trước mà kinh tế tư bản đã biết đến.


TIỀN TỆ VÀ TÍN DỤNG



Tiền tệ và Tín dụng

Michel Lasserre (Pháp) 12/2008
Người dịch: Dương Quang Thiện, 8/2012

Tiền tệ là một yếu tố thiết yếu của nền kinh tế hiện thời; nó là nguồn máu lưu chuyển từ sản xuất qua tiêu thụ, từ các hộ gia đình qua các doanh nghiệp xuyên ngang qua các tổ chức hành chính. Nếu không được ứng trước một số tiền để mua vật tư thiết yếu, thì việc sản xuất các sản phẩm hoặc dịch vụ tại các xí nghiệp sẽ khó lòng thực hiện được. Không có tiền thì một cá nhân khó có thể chu cấp cho mình những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống hằng ngày. Còn một chính quyền thì không thể thực hiện các chức năng cai trị của mình nếu không có tiền.
Tiền tệ và tín dụng sẽ được quản lý bởi một hệ thống ngân hàng và tài chính nằm ở trung tâm của nền kinh tế tiên tiến của chúng ta. Hệ thống này là kết quả của một cuộc tiến hóa dài của những hình thức tiền tệ và của những kinh nghiệm tiền tệ. Đồng tiên “phi vật chất” (dématérialisé, nghĩa là không phải đồng tiền kim loại hoặc đồng tiền giấy), chỉ mới xuất hiện vài thập kỷ nay, tượng trưng cho thực chất của đồng tiền hiện thời. Nó không dựa trên bất cứ kim loại bản vị nào hỗ trợ, mà chỉ là sự đối ứng của những tín dụng mà hệ thống ngân hàng cung cấp cho khách hàng. Nếu loại tiền tệ phi-vật-chất này cho thấy lợi ích là có thể tạo ra hầu như theo ý muốn, người ta cũng có thể nhận ra rằng các cuộc khủng hoảng tài chính liên tiếp xảy ra và sự bất bình đẵng ngày càng gia tăng.
Việc vận hành tốt của hệ thống tiền tệ và tài chính hiện thời dựa trên một sự tăng trưởng liên tục của tín dụng. Hệ thống này thực sự là một cỗ máy dùng tạo ra tín dụng. Và như ta biết mọi tín dụng đều mang một đối ứng là một khoảng nợ nào đó, tạo ra ngày càng nhiều tín dụng có nghĩa là bao giờ cũng sản xuất ra thêm vô số nợ nầng mà ai đó phải gánh chịu. Khoảng nợ có thể chấp nhận đều có những giới hạn, cho nên về lâu về dài hệ thống tín dụng này không thể chịu nổi. Với cuộc khủng hoảng tín dụng “subprime” ở Mỹ vào năm 2007, xem ra giới hạn đã đạt đến…

 1) Lịch sử tiền tệ và tín dụng
 Đồng tiền kim loại
Đồng tiền là một của cải mang nhiều hình thức khác nhau suốt hành trình lịch sử dài của nó. Vào thời kỳ cổ đại ở địa trung hải (châu Âu), súc vật và ngủ cốc giữ vai trò đồng tiền giống như với kim loại (đồng, vàng, bạc). Vàng là một kim loại quý hiếm, có thể cán nhỏ và khó bị hao mòn được. Chính những đặc tính khác nhau này, vàng được dùng làm phương tiện trao đổi cũng như dự trữ giá trị được chấp nhận từ nhiều ngàn năm qua.
Những “đồng tiền được dập” đầu tiên đã xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ 7 trước công nguyên. Các đồng tiền này được tạc hình chứng thật một sự bảo đảm của một vị vua hoặc một cộng đồng nào đó. Đồng tiền được dập sẽ mang một trị giá rõ ràng, trị giá thường tương ứng với trọng lượng của kim loại (vàng, bạc, đồng) hình thành đồng tiền. Ta khỏi phải cần cân đồng tiền để biết giá trị của nó.
Từ hai ngàn năm nay, đồng tiền kim loại trở thành nguồn tiền tệ duy nhất được sử dụng.
Vào thời kỳ trung cổ, đồng tiền lưu hành rất ít ở châu Âu vì rằng phương thức sản xuất phong kiến vào thời đó không mấy thích ứng với việc sử dụng đồng tiền. Vào thời ấy, thuế má được thu bằng hiện vật, nghĩa là dưới dạng ngủ cốc, lúa mì, hoặc dưới dạng lao công, kể cả việc thanh toán trong các công việc liên quan đến ngành nghề thủ công. Các cộng đồng, phần lớn là nông thôn, hầu như sống trong mối tương quan tự cung tự cấp theo đấy sử dụng đồng tiền là thứ yếu.
Cho vay nặng lãi (cho vay trả lãi) được xem là đi ngược lại các giáo lý tôn giáo, bị cấm đoán ở Pháp từ năm 789 (dưới thời hoàng đế Charlemagne), do đó việc sử dụng đồng tiền rõ ràng không thích ứng. Các đồng tiền vàng hoặc bạc chủ yếu được sử dụng trong buôn bán hàng xa xỉ, được lưu hành trong các hội chợ hoặc trong buôn bán quốc tế.
Hoạt động ngân hàng, đã hiện diện vào thời trung cổ địa trung hải, lại xuất hiện trong giới thương nhân:
Vào thế kỷ thứ XIV, tiền giấy bắt đầu xuất hiện với thư hối đoái (lettre de change) cho phép tránh việc chuyên chở tiền kim loại nặng nề, cồng kềnh. Thư hối đoái này tạm thời thay thế tiền kim loại.
Chiết khấu (escompte) cho phép thanh toán ngay lập tức một thư hối đoái.
Nguyên tắc bù trừ (compensation) trên sổ tài khoản cho phép ngân hàng trao đổi lẫn nhau giấy nợ và nợ.
Điểm quan trọng là bạn phải hiểu thấu hai thủ tục tiền tệ kể trên (chiết khấu và bù trừ), vì chúng nằm ngay tại trung tâm của các hệ thống ngân hàng ngày hôm qua cũng như ngày nay.
Giấy hối đoái (lettre de change) : Một thương nhân mua một số hàng hóa nào đó. Thay vì thanh toán ngay lập tức sử dụng các đồng tiền mặt hẳn hoi, thương nhân này đưa ra một tài liệu theo đấy nhà cung cấp có thể được thanh toán bởi ngân hàng hoặc ai đó được chỉ định.
Thủ tục này cho phép một thương nhân Ý ở Venise, có thể lên thành phố Amsterdam (Hà Lan) hoặc vào một hội chợ để mua hàng, mà khỏi phải chở theo các đồng tiền kim loại nặng nề để thanh toán việc mua hàng của mình. Thương nhân này sẽ tạo ra một “giấy hối đoái” mà nhà cung cấp có thể đòi bù trừ bởi ngân hàng của mình.
Kỹ thuật tài chính này cho phép một kỳ hạn (delai) giữa lúc giao hàng và lúc thanh toán, kỳ hạn này được ghi rõ trên chứng từ “thanh toán ngày…”. Như vậy, kỳ hạn này tương ứng với một tín dụng.
 Tùy tình hình, nhà cung cấp có thể chuyển thư hối đoái cho một chủ nợ riêng của mình để thanh toán món nợ hoặc trao cho một nhà cung cấp khác để mua hàng; như vậy cái giấy hối đoái này có thể qua tay nhiều người trước khi cuối cùng được thanh toán.
 Ngày nay, tấm séc (hoặc ngân phiếu), cheque, là biến tướng của một phiếu hối đoái.


Chiết khấu (Escompte) : Một nhà sản xuất cung cấp các mặt hàng cho một nhà bán lẻ; người này thanh toán giao dịch này thông qua một thư hối đoái, có thể được thanh toán trong vòng 3 tháng. Nhà sản xuất đem thư hối đoái này cho ngân hàng của mình, ngân hàng cho thanh toán ngay lập tức (trừ đi tiền hoa hồng của mình, được gọi là chiết khấu). Ngân hàng sẽ thu hồi số tiền trên với nhà bán lẻ khi thư hối đoái đã đến kỳ hạn.
Bù trừ trên sổ tài khoản : Đây là kỹ thuật thanh toán giữa nhiều bên nợ và bên có phía này với phía kia, giới hạn việc sử dụng những phương tiện thanh toán dư nợ ròng đối với những tác nghiệp khác nhau.
 Ta thử lấy thí dụ của 2 ngân hàng, một ở Venise (Ý) và một ở Amsterdam (Hà Lan). Nhiều khách hàng của ngân hàng Venise nợ hoặc có đối với những khách hàng của ngân hàng Amsterdam, và ngân hàng này lại có những khách hàng nợ hoặc có cũng cùng ngân hàng tại Venise.
Hai ngân hàng này chả cần gởi cho nhau tổng số tiền cần thiết đối với những giao dịch này, mà chỉ cần gởi số dư thuần (solde net). Nếu một ngân hàng nợ ngân hàng kia tổng cộng 200.000 Florins, và ngân hàng kia lại nợ 190.000 Florins, thì không phải tổng cộng 390.000 Florins phải được chuyển đi, mà ngân hàng thứ nhất chỉ cần chuyển cho ngân hàng kia 10.000 Florins là đủ.
Ngày nay, ở Pháp, các ngân hàng thương mãi bù trừ hằng ngày với nhau số tiền họ có từ những tài khoản họ đăng ký ở Ngân Hàng Trung Ương.

Đồng tiền giấy
Vào năm 1609, ngân hàng Amsterdam (Hà Lan) nhận giữ những đồng tiền kim loại khác nhau mà các thương nhân đem đến, rồi cho lưu chuyển các đồng tiền bằng giấy.
Tổng số tiền phát hành của tiền giấy tương ứng với tổng trị giá kim loại được cất trữ tại ngân hàng; tiền giấy thay thế kim loại, chứ không phải một đồng tiền thật thêm vào đồng tiền kim loại. Các đồng tiền kim loại được cất trữ là đối ứng của các đồng tiền giấy, và các đồng tiền giấy này sẽ bị hủy khi người gữi tiền thu hồi lại tiền kim loại của mình.
Mọi việc lại thay đổi vào năm 1656, khi Ngân Hàng Thụy Điển chọn lấy một kỹ thuật mới: ngân hàng vẫn cho phát hành đồng tiền giấy đối ứng với trị giá của tiền kim loại quí mà ngân hàng cất giữ, nhưng ngân hàng bao giờ cũng phát hành bổ sung những đồng tiền giấy dùng đề chiết khấu các “thương phiếu tài chính” này.
 Thương phiếu tài chính (Effet de commerce) : Các phiếu nợ thay thế một thanh toán bằng tiền đồng. Phiếu nợ này sẽ được thanh toán ngay liền hoặc theo kỳ hạn. Các phiếu hối đoái (lettre de change), hối phiếu (traite), ký phiếu (billet à ordre), séc (chèque) tất cả đều là những thương phiếu tài chính.

Việc chiết khấu được sử dụng bởi các ngân hàng, nhưng vào thời kỳ đó, ngân hàng mua lại các thương phiếu đổi lấy tiền kim loại, chứ không phải đổi lấy một tờ giấy đơn giản. Các tiền giấy của Ngân Hàng Thụy Điển bao giờ cũng có thể được hoán đổi thành tiền kim loại tại ngân hàng này, nhưng đây là lần đầu tiên một ngân hàng chính thức phát hành tiền giấy nhiều hơn đối ứng với số kim loại được cất trữ.
Các đồng tiền giấy được phát hành không thay thế một-đổi-một với đồng tiền kim loại, mà lại cho thêm vào (tương ứng với tiền chiết khấu), và như vậy đồng tiền bổ sung được phát hành thêm. Đối ứng của đồng tiền giấy này không chỉ là kim loại quý, mà còn là phần nợ trên các thương phiếu này. Thủ tục này trở thành thông lệ vào thế kỷ thứ 18 và được phổ biến vào thế kỷ thứ 19.
Ngân hàng quốc gia Pháp (Banque de France) được thành lập vào năm 1800 bởi Hoàng đế Pháp, Napoléon. Đây là một ngân hàng tư nhân mà Napoleon là cổ đông. Lẽ dĩ nhiên ngân hàng này sử dụng các phương pháp của Ngân hàng Thụy điển, với lại việc cho vay có lãi đã trở nên hợp pháp sau cuộc cách mạng Pháp năm 1789. Những phiếu được phát hành với số tiền lớn được cho phép lưu hành để thanh toán những khối tiền lớn. Các phiếu này được chuyển đổi thành vàng tại các quày tiền tại ngân hàng, nhưng lại không có “giá trị lưu hành hợp pháp” (nghĩa là không ai bị bắt buộc chấp nhận như là thể thức thanh toán).
Tại Pháp, trong cuộc khủng hoảng kinh tế và xã hội năm 1848, chính phủ tuyên bố “tỉ giá lưu hành hợp pháp” (ai cũng bị bắt buộc những phiếu thanh toán), và “tỉ giá bắt buộc” (nghĩa là ngân hàng không còn hoán đổi phiếu lấy vàng), và chấm dứt vào năm 1850. Vào năm 1870, tỉ giá hợp pháp và tỉ giá bắt buộc lại được tuyên bố chính thức. Việc hoán đổi được thiết lập lại vào năm 1878, nhưng tỉ giá hợp pháp được thiết lập lại hoàn toàn. Tỉ giá bắt buộc sẽ được thiết lập lại vào năm 1914, kéo dài cho tới 1928, theo đấy một hoán đổi từng phần (chỉ đổi được đối với các thỏi vàng 12 ký) sẽ được thiết lập cho tới năm 1936. Từ năm 1936, các tiến giấy của Banque de France có một tỉ giá hợp pháp và bắt buộc.
Trong nhiều năm, ở Pháp việc tăng tỉ giá tiền ngân hàng không cấm qui chiếu về vàng, người ta nhận ra rằng có một tăng trưởng đều đều giá trị của tiền ngân hàng theo tương ứng tiền tệ:
Tiền quan germinal năm 1803 tương đương với 322,58 mg vàng,
Tiền quan Poincaré năm 1928 tương đương với 65,50 mg vàng
Quan mới năm 1959, (nghĩa là 100 quan củ) tương đương với 180 mg vàng
Phá giá tiền quan Pháp năm 1969 làm cho đồng quan Pháp xuống 160 mg vàng
Từ 1969 trở đi, tiền quan Pháp không được xác định so với vàng, chính thức bị thả nổi từ năm 1976 theo hiệp ước Kingston. Tất cả mọi qui chiếu về vàng (nghĩa là dùng vàng làm kim bản vị) để tính tương đương cố định giá trị đồng tiền từ nay sẽ bị cấm. Nghĩa là đồng tiền sẽ bị thả nổi về mặt tỉ giá. Người ta có thể nhận ra rằng, nếu một vài ngân hàng trung ương đã bán đi một số dự trữ vàng của mình, tuy nhiên họ vẫn còn giữ một số khá lớn: vào khoảng 2.800 tấn đối với nước Pháp, và 32.000 tấn đối với toàn thể các ngân hàng trung ương toàn thế giới. Số lượng này rất quan trọng vì rằng người ta ước tính là chỉ 150.000 tấn được khai thác bởi con người, và ít nhất mất đi 10.000 tấn. Nếu về mặt chính thức vàng không được sử dụng làm kim bản vị, nhưng sự hiện hữu của khối lượng tồn kho này cho thấy ít nhất bao giờ cũng là một trị giá dự trữ về mặt tài chính.
Ngày này, nếu trị giá đồng tiền không trực tiếp gắn liền vào một trọng lượng của vàng nào đó, người ta bao giờ cũng có thể mua vàng, nhưng được xem như là dạng nguyên liệu, chứ không mang giá trị tiền tệ. Trị giá vàng của Banque de France tương ứng với 42,2 tỉ euros vào tháng 12/2006, trong khi ấy khối lượng tiền quan lưu hành mang một giá trị lên đến 122 tỉ euros, còn toàn bộ tiền tiết kiệm tại tất cả các ngân hàng ở Pháp vào khoảng 1249,6 tỉ euros. Do đó, vàng chỉ tượng trưng cho một số nhỏ tiền quan hiện hữu.
Đồng tiền phi vật chất (đồng tiền tín dụng)
Nửa chót thế kỷ 20 ta sẽ thấy xuất hiện những thủ tục tiền tệ khác; việc sử dụng chi phiếu séc, thẻ ngân hàng kéo theo việc phi-vật-chất hóa (dematerialisation) ngày càng lớn tiền tệ. Giờ đây, phần lớn tiền tệ phi-vật-chất nằm trên đĩa cứng máy tính.

2) Các dạng thức, bản chất và chức năng của tiền tệ
Các dạng thức và bản chất
Trong lịch sử của mình, tiền tệ mang nhiều dạng thức khác nhau mà ta có thể kể ra:
Tiền hàng hóa: súc vật, ngủ cốc, muối, thuốc lá, hạt ca cao, trà, …
Tiền kim loại: dưới dạng thỏi vàng hoặc đồng tiền vàng quí hiếm thay thế tiền hàng hóa. Phần lớn người ta dùng vàng làm kim bản vị (etalon).
Tiền giấy: có hoặc không qui đổi ra tiền kim loại.
Tiền phi-vật-chất: hoàn toàn không vững chắc.
Hình dáng của tiền tệ là một việc, còn bản chất của nó lại là một chuyện khác. Trong trường hợp tiền hàng hóa thì bản chất khớp với hình dáng, với các loại khác thì không giống nhau.
Đồng tiền vàng được làm từ một nguyên liệu tự thân mang một giá trị. Lẽ dĩ nhiên là một giá trị mang tính đầu cơ do sự khan hiếm của kim loại này, nhưng cũng có một giá trị tối thiểu tương ứng với chi phí cần thiết để khai thác kim loại.
Tiền giấy hoặc tiền phi-vật-chất thì thuộc một loại khác. Vàng mà người ta giữ ở nhà sẽ không bị mất giá trị trước các cuộc khủng hoảng, trong khi ấy tiền giấy của nhà nước thì thuộc bản chất nên sẽ bị mất giá trước một lạm phát phi mã, còn tiền phi-vật-chất sẽ biến mất sau cuộc phá sản ngân hàng dựa trên tài khoản mà tiền này được đăng ký.
Nếu bản chất của đồng tiền kim loại, hoặc tương đương với kim loại, là đủ rõ ràng, thì với đồng tiền giấy hoặc đồng tiền phi-vật-chất sẽ không như vậy. Giá trị đồng tiền giấy không tương ứng với giá trị miếng giấy in đồng tiền. Trong trường hợp đồng tiền tín dụng, là đồng tiền phi-vật-chất, bao gồm những dấu hiệu mã hóa, thì tính trừu tượng của đồng tiền là hoàn toàn.
Hệ thống tạo đồng tiền mà Ngân Hàng Thụy Điển chọn sử dụng vàogiữa thế kỷ 17, bao gồm việc phát hành những phiếu đổi lấy những chiết khấu của các hối phiếu, hoàn toàn không thay đổi từ thời ấy đến nay. Các ngân hàng sẽ cho ra tiền đổi lấy các phiếu nợ mà ngân hàng mua vào với đồng tiền được tạo ra vào dịp này. Ngoại trừ một phần nhỏ tương ứng với vàng mà Ngân Hàng Trung Ương nắm giữ, thì đồng tiền mà ta biết đến là đo đối ứng với những tín dụng gán cho nền kinh tế (khoảng nợ), và do đó người ta gọi là “đồng tiền tín dụng” (được xem là đồng tiền phi-vật-chất).
Người ta không bao giờ chấp nhận dễ dàng ý kiến trừu tượng: đồng tiền là đối ứng với việc thừa nhận một khoảng nợ. Một số người cố thử cụ thể hóa đồng tiền bằng cách làm rõ bản chất của các giấy nợ này, nghĩa là những khoảng nợ đối với “kinh tế”, nghĩa là đối với sản xuất hoặc tiêu thụ. Bản thân các khoảng nợ đối với sản xuất đều có đối ứng rõ ràng là hữu hình, tương ứng với việc sản xuất hàng hóa đang tiến hành hoặc đang chờ được bán ra. Các nhà kinh tế xem các đồng tiền tiên tiến (đồng tiền tín dụng) là sản phẩm của việc “tiền tệ hóa sản xuất “.
Tuy nhiên, người ta nhận ra rằng, một phần các khoảng nợ hiện hành (nghĩa là ¼ GDP), tương ứng với các khoảng nợ gán cho các hộ gia đình (nghĩa là tín dụng dùng cho tiêu thụ hoặc cho mua sắm nhà cửa), và khoảng nợ này không tương ứng với bất cứ sản xuất nào, mà chỉ là những giấy chứng nhận nợ đối với một sản phẩm đã được sản xuất và đã được tiêu thụ.
Các chức năng của đồng tiền
Đồng tiền không hữu ích ngay liền gì đối với một cá nhân cô độc, tự thân đồng tiền không nghĩa ý gì cả. Đây là một của cải riêng tư, thuộc quyền sở hữu của những cá nhân muốn làm gì thì làm như họ muốn, nhưng đồng tiền chỉ hiện hữu dựa trên vai trò xã hội của nó. Vai trò này đi đôi với những chức năng khác nhau, trong ấy 3 vai trò thường được nêu ra là:
đơn vị tài khoản hoặc đơn vị giá trị: đây là đơn vị đo lường chung, kim bản vị cần thiết cho phép ấn định giá cả, xác định trị giá mặt hàng. Giá cả được thông báo theo số lượng đồng tiền, và sự giàu có cũng được đánh gia như thế.
trung gian trong việc trao đổi: tiền tệ cho phép trao đổi dễ dàng hơn là đổi chác vật chất (mậu dịch đổi hàng). Đây là chức năng phổ biến của tiền tệ, được phân phối qua trung gian thu nhập, và mỗi người có thể sử dụng tiền tệ để trao đổi lấy của cải vật chất hoặc dịch vụ.
dự trữ giá trị: tiền tệ cho phép sử dụng nó triễn hạn theo thời gian trị giá trao đổi của nó mà nó đại diện, vì ta không bị bắt buộc phải tiêu tiền ngay lập tức. Lẽ dĩ nhiên, chất lượng của chức năng dự trữ này tùy thuộc độ ổn định của tiền tệ (lạm phát).
Một chức năng thứ 4 thường xuyên bị bỏ qua bởi các nhà kinh tế đó là chức năng phương tiện làm giàu. Thật vậy, trong hệ thống kinh tế dựa trên quyền tư hữu các tích sản tài chính và kỹ nghệ, tiền tệ có sức mạnh đem lại tiền tệ khác. Nó cho phép người chủ sở hữu tiếp nhận một lợi tức duy nhất dựa trên sự giàu có của mình. Ta chỉ chuyển đổi đồng tiền có trong tay thành những tích sản tài chính, nghĩa là “đầu tư” tiền vào đâu đó, cho mượn tiền lấy lãi, hoặc đổi lấy những cổ phần của các xí nghiệp.
Vì lãi suất và lợi nhuận chả có chi là kỳ bí và chắc chắn được trích ra đâu đó từ công việc của người khác, bằng cách chuyển đổi thành vốn tái chính, đồng tiền cho phép người chủ sở hữu quyền năng chia sẻ bớt một phần sự giàu có người khác đem lại. Qua trung gian của lãi suất và lợi nhuận, đồng tiền giữ một vai trò công cụ thâu tóm và chuyển giao sự giàu có, và bảo đảm chức năng phương tiện làm giàu cá nhân.
3) Đồng tiền : tiền tệ và tích sản tài chính
Trong ngôn ngữ thường nhật thỉnh thoàng ta sử dụng từ ngữ “tiền”. “Tôi không đem tiền theo”, có nghĩa là trong túi, ta không có đồng tiền nào, tiền xu cũng như tiền giấy. Từ ngữ “tiền” ở đây có nghĩa là đồng tiền có sẵn, có thể sử dụng ngay liền. Từ này có cùng mang cùng ý nghĩa hay không khi bảo rằng: “Người này giàu lắm, anh ta có rất nhiều tiền, một “đại gia” mà!”?
Trong trường hợp này, người ta không chỉ nói là đồng tiền người này có trong túi hoặc trong tài khoản vãng lai của người này tại ngân hàng, mà người ta còn nói đến một hình thức của tiền bạc, không phải là đồng tiền không có sẵn ngay liền, mà là đồng tiền giữ vai trò dự trữ giá trị. Loại tiền bạc này có thể ở dưới dạng của cải hữu hình (bất động sản, nhà cửa, đồ trang sức quý, …) mà còn có thể là vô hình, nghĩa là những tích sản tài chính. Ở đây, chúng tôi bỏ qua khía cạnh hữu hình của tiền bạc, mà chỉ quan tâm đến những tích sản tài chính, một dạng thức vô hình của tiền tệ.
Tiền bạc mà ta giữ ở nhà, hoặc tại một tài khoản vãng lai ở ngân hàng, sẽ không đem lại gì về mặt lợi nhuận. Nếu muốn tiền đẻ ra tiền, thì phải “đầu tư” đâu đó, nghĩa là chuyển nó thành những tích sản tài chính (tài sản tài chính). Các tích sản tài chính, mà thường người ta gọi là “phiếu” (hối phiếu, thương phiếu, v..) và đây là những phiếu quyền tư hữu hoặc phiếu nợ.
Các phiếu quyền tư hữu thường là những phiếu tư hữu các xí nghiệp, còn thường được gọi là những cổ phiếu (mà chúng tôi sẽ đề cập đến ở mục 7). Còn các phiếu nợ là tương ứng với một khoảng tín dụng. Người ta cho mượn tiền và đổi lại người ta nhận một phiếu nợ đem lại một khoảng lãi sau một kỳ hạn. Nghiệp vụ có thể được thực hiện trực tiếp tại thị trường tài chính, hoặc gián tiếp qua trung gian ngân hàng. Đơn giản là nếu ta muốn cho ngân hàng mượn tiền bằng cách bỏ tiền vào những tài khoản thuộc sổ tiết kiệm hoặc những kiểu đầu tư khác mà ngân hàng có thể đề nghị cho khách hàng. Ngân hàng sẽ lo việc đem số tiền trên cho vay, chuyển thành những phiếu nợ.
Các tích sản tài chính là những dự trữ giá trị, không phải những dự trữ không sinh lợi mà là những dự trữ đem lại lợi nhuận. Cho dù có thể bán dễ dàng những tích sản tài chính này, nghĩa là đổi lấy tiền mặt, những tích sản tài chính không thể đem dùng làm phương tiện thanh toán, và không thể bất cứ trường hợp nào được xem như là đồng tiền mặt.

4) Hệ thống ngân hàng
Hệ thống ngân hàng tiên tiến thường bao gồm một Ngân Hàng Trung Ương (NHTU) và nhiều ngân hàng thương mại (thường được gọi là ngân hàng thứ yếu, hoặc ngân hàng tư nhân bình thường, hoặc đơn giản một cách ngắn gọn là ngân hàng). Chúng ta sẽ xem sau hai loại ngân hàng kể trên sẽ giữ những vai trò đặc thù nào.
Ngân Hàng Trung Ương



Trung tâm của hệ thống ngân hàng là Ngân Hàng Trung Ương (ở Việt Nam gọi là Ngân Hàng Nhà Nước). Ở Pháp, ngân hàng trung ương Banque de France, được thành lập bởi Hoàng đế Napoleon vào năm 1800 như là một ngân hàng tư, nhưng bị quốc hữu hóa vào năm 1945, và trở nên độc lập từ năm 1993 trở đi. Khi tham gia vào đồng tiền chung euro vào năm 2000, ngân hàng trung ương Pháp phối hợp với ngân hàng BCE (Banque Centrale Européenne - ngân hàng trung ương châu âu), theo đấy Banque de France phải từ bỏ phần lớn quyền hành của mình.
 NHTU hoạt động trong khuôn khổ một sứ mệnh, đó là giữ gìn sự ổn định của đồng tiền, tín dụng và sự hoạt động tốt của hệ thống ngân hàng.
NHTU là một ngân hàng của nhiều ngân hàng, và tất cả các ngân hàng thương mại buộc phải có một tài khoản tại NHTU đầy tiền (dự trữ bắt buộc). Chính từ những tài khoản này hằng ngày các ngân hàng có thể bù trừ các chi phiếu và các thanh toán điện tử của những khách hàng của mình.
Nếu một ngân hàng thương mãi không đủ thanh khoản (liquidity - nghĩa là tiền mặt dùng ngay được) thì ngân hàng có thể đi vay trên thị trường tài chính, nghĩa là qua các định chế tài chính tư (liên ngân hàng), hoặc trực tiếp qua NHTU. Một vai trò quan trọng của NHTU là tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại, nghĩa là cung cấp thanh khoản (tiền phi-vật-chất) bằng cách “tiếp nhận an dưởng” những tích sản có trong tay các ngân hàng thương mại (công khố phiếu nhà nước, và tín dụng tư có chất lượng).
Những cuộc tái cấp vốn này thường rất ngắn ngủi, chỉ kéo dài một hai ngày. Tiền được tạo ra như vậy sẽ biến mất khi trở lại NHTU sau cuộc “tiếp nhận an dưởng”.
Việc tái cấp vốn này thường không được miễn phí, mà phải trả một phí với tỉ suất lãi sẽ do NHTU ấn định. Tỉ suất này được tính dựa theo những rũi ro liên quan đến sự ổn định đồng tiền, cũng như nhu cầu thanh khoản của các ngân hàng thương mại. Một nguy cơ lạm phát sẽ làm tăng tỉ suất này, trong khi một nhu cầu thanh khoản làm cho tỉ suất này hạ xuống.
Trong trường hợp khủng hoảng thanh khoản (thiếu tiền trang trải) trên thị trường tiền tệ, thì NHTU phải tạo ra đồng tiền cần thiết cho hoạt động tốt của hệ thống ngân hàng. NHTU được xem như là nhà cho vay ứng cứu cuối cùng. Khủng hoảng tín dụng “subprime”, tại Mỹ vào năm 2007, buộc lòng các NHTU phải tái cấp vốn “khủng” cho các ngân hàng thương mại.
Nếu vào những thời kỳ khác, NHTU sẽ tạo ra tiền bù trừ trực tiếp các công khố phiếu, thì ngày nay không phải thế. Nhà Nước giờ đây tự cấp vốn trên các thị trường ngân hàng và tài chính.

Các ngân hàng thương mại
Các ngân hàng thương mại lo thu gom tiền gữi tiết kiệm của các hộ gia đình (tư nhân), của các xí nghiệp và của các cơ quan hành chính công cộng. Các tiền gữi này, tiền thu nhập của các hộ gia đình, cũng như tiền bán hàng của các xí nghiệp & tiệm quán, thường xuyên trực tiếp được chuyển vào các tài khoản vãng lai, hoặc được thanh toán qua trung gian những tấm séc hoặc phiếu thanh toán. Đây cũng có thể là tiền tiết kiệm của các hộ gia đình, gửi vào những tài khoản sổ tiết kiệm, hoặc là những hình thức đầu tư khác dành cho những xí nghiệp tạm thời dư thừa tiền mặt.
Khối lượng tiền được thu gom như thế sẽ không nằm chết ở kho bạc trong các ngân hàng, mà chắc chắn phải đem cho vay, cho các khách hàng thông thường của ngân hàng, hoặc được tung ra thị trường tiền tệ hoặc tài chính.

Phần lớn hoạt động của các ngân hàng là làm trung gian tài chính. Khi một xí nghiệp hoặc Nhà Nước muốn được tái cấp vốn, thì họ sẽ phát hành những phiếu (giấy chứng nhận – cổ phiếu hoặc công khố phiếu chẳng hạn) được bán rộng rải qua trung gian những ngân hàng thương mại. Ngoài ra, các ngân hàng đề nghị bán cho khách hàng của mình những sản phẩm tài chính khác, chẳng hạn cổ phiếu các doanh nghiệp, trái phiếu xí nghiệp, công khố phiếu, v.., cũng như các dịch vụ quản lý các sản phẩm tài chính này.
Một vai trò khác của các ngân hàng thương mại, ít được biết đến so với các vai trò đi trước, là tạo ra tiền tệ phi-vật-chất.

5) Việc tạo ra tiền tệ
Nhiều người xem đồng tiền như là một tồn kho, nghĩa là hiện hữu một khối lượng tiền đang di chuyển trong tay dân chúng. Đồng tiền này là do NHTU tạo ra, và thường xuyên, người ta nghỉ rằng khối lượng tiền này được bảo đảm đối ứng bởi một khối vàng tồn kho mà NHTU cất giữ đâu đó. Nhưng trong thực tế là không phải như thế. Chỉ cần nhìn vào giá trị của khối lượng vàng dự trữ của NHTU thực sự thấp hơn nhiều so với giá trị của khối lượng tiền đang luân chuyển trong tay dân chúng.
Vào thời kỳ mà đồng tiền giấy hoặc kim loại của Banque de France tượng trưng phần lớn đồng tiền hiện hữu, thì khồi vàng tồn kho còn có ý nghĩa, nhưng với đồng tiền phi-vật-chất, thì mọi việc sẽ thật sự khác đi.

Ngân Hàng Trung Ương (NHTU) tạo ra đồng tiền thế nào
Ngày nay, NHTU tạo ra “đồng tiền trung ương”. Đồng tiền này nằm trên các tài khoản của các ngân hàng thương mại được giữ tại NHTU. Nó giữ vai trò dự trữ bắt buộc, với số tiền được ấn định bởi NHTU, và sẽ được dùng làm bù trừ thanh toán giữa các ngân hàng.
NHTU không có tồn kho đồng tiền trung ương, đồng tiền này được tạo ra đối ứng với các phiếu nợ (công khố phiếu, hoặc các phiếu nợ có chất lượng chẳng hạn ) mà các ngân hàng thương mại giao phó cho NHTU.
Nhịp độ các nghiệp vụ tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại bởi NHTU là những dịp tạo bổ sung tiền. Các vụ tái cấp vốn thường có một thời gian rất ngắn ngủi, do đó đồng tiền tạo ra cũng có một thời gian sống rất ngắn, và đồng tiền này sẽ biến mất khi thời gian này đi qua.

Các ngân hàng thương mại tạo ra đồng tiền thế nào ?
Theo cùng nguyên tắc mà các ngân hàng thế kỷ thứ 17 tạo ra đồng tiền giấy đối ứng với thương phiếu, các ngân hàng thương mại ngày nay cũng tạo ra tiền phi-vật-chất đối ứng với các giấy nợ.
Không những thế, các ngân hàng thương mại cho vay trọn số tiền mà người ta giao cho giữ, như vậy các quỷ tiết kiệm ban phát tín dụng, mà các ngân hàng thương mại còn cho vay tiền không có trong quỷ tiết kiệm, và như vậy là những tín dụng dùng làm quỷ tiết kiệm.
Đối với một người dân bình thường, thì khó lòng chấp nhận thực tế của việc tạo ra đồng tiền của các ngân hàng thương mại. Những ai nghi ngờ sẽ đặt câu hỏi nguồn gốc của đồng tiền phi-vật-chất, đồng tiền này từ đâu ra?
Khi tạo ra đồng tiền trung ương dành cho các ngân hàng thương mại sử dụng, thì NHTU giữ đúng vai trò là tạo ra đồng tiền, thì NHTU không phải là nguồn gốc của đồng tiền phi-vật-chất hiện hữu, số tiền mà người ta tìm thấy trong các tài khoản vãng lai của khách hàng. Đồng tiền phi-vật-chất như vậy thuộc một qui trình tạo ra riêng của các ngân hàng thương mại, và không có qui trình này, thì loại đống tiền này không hiện hữu.
Đối với một ngân hàng thương mại việc tạo ra đồng tiền rất dễ dàng, vì nghiệp vụ chẳng qua là một trò bút tích (kế toán) đơn giản. Trên sổ sách kế toán của một ngân hàng, thì có 2 phần: một tích sản (Có) và một tiêu sản (Nợ).
Phần tích sản là những gì người ta nợ ngân hàng, và đây là những “tích sản tài chính”, những phiếu nợ, tiền mà ngân hàng cho vay đem lại lãi cho ngân hàng.
Phần tiêu sản là những gì ngân hàng nợ người gởi tiền, là số tiền gửi tại ngân hàng được ghi vào sổ tiết kiệm.
Việc gì xảy ra khi một ngân hàng cho ai đó vay 5000 euro?
Nghiệp vụ sẽ tạo ra một phiếu nợ 5000 euro, ghi vào Có trên sổ sách ngân hàng.
5000 euro này sẽ ghi lên tài khoản của người vay, ghi vào Nợ trên sổ sách ngân hàng.
Cuối cùng, người ta có thể thấy là ngân hàng cho ghi cùng số tiền lên phía Có và Nợ, và sổ sách của ngân hàng được cân bằng, ngoài việc trước đây ngân hàng không có số tiền 5000 euro nhưng lợi dụng nghiệp vụ để tạo ra số tiền này.
Việc tạo ra tiền thỉnh thoảng được gọi là “tạo kiểu ex nihilo”, nghĩa là tạo từ hư vô. Đặc tính này dựa trên sự việc là việc tiền cho ai đó vay không hiện hữu trước đây. Tuy nhiên, số tiền này không được tạo ra từ hư vô, nhưng từ một nghiệp vụ ngân hàng tạo ra số tiền với một đối ứng là một giấy nợ. Việc sử dụng từ ngữ “ex nihilo” (hư vô) có chiều hướng nghĩ rằng việc tạo ra tiền không đối ứng, và ngân hàng có thể tạo ra tiền “miễn phí”, và đây thật sự là không đúng thế.
Số tiền 5000 euro trong thí dụ này mang một thời gian hạn chế vào thời gian của phiếu nợ. Khi người vay thanh toán số tiền này thì nó biến mất. Do đó, sự hiện hữu của số tiền phi-vật-chất không dựa trên một số lượng tiền tồn kho hiện hữu, mà lại dựa trên dòng lưu chuyển thường trực của việc tạo ra tiền phi-vật-chất của các ngân hàng thương mại. Nếu vì những lý do gì đó, các ngân hàng thương mại ngưng cấp tín dụng tạo ra tiền, thì tiền phi-vật-chất cũng sẽ biến luôn.
Thí dụ vừa đưa ra ở trên chỉ là một thí dụ cho thấy làm thế nào các ngân hàng thương mại tạo ra tiền, nghiệp vụ này cũng có thể là một nghiệp vụ chiết khấu. Tiến trình tạo tiền này mang tính toàn cầu, và khó lòng biết được là một khoảng vay ngân hàng cấp cho được cấp vốn bởi đồng tiền hiện hữu trên các sổ tiết kiệm hay là tiền tạo ra trong dịp này.
Khả năng tạo ra tiền không phải là vô tận, nhưng lại bị giới hạn vào những dự trữ bắt buộc được giữ tại NHTU, cũng như vào tỉ suất được gọi là “ratio Cooke”, tỉ suất này cho tùy thuộc vào tổng số tiền cho vay được phép của ngân hàng trên vốn tự có của ngân hàng (tài sản). Nếu vốn tự có của ngân hàng là rất lớn, thì ngân hàng có thể cho phép cho vay nhiều hơn, và nghĩa là tạo ra tiền phi-vật-chất lớn hơn. Nếu ngân hàng làm ăn bết bát làm mất tiền, thì ngân hàng phải cấn vào tài sản tự có, như vậy ngân hàng sẽ mất khả năng cấp vốn mới cho khách hàng cũng như khả năng tạo tiền phi-vật-chất cần thiết.
 6) Những tổng gộp (agregate) tiền tệ
Định nghĩa
Tại Pháp, trong thống kê của mình, kế toán quốc gia INSEE sử dụng khái niệm tổng gộp tiền tệ (hoặc khối tiền tệ) để kế toán lại đồng tiền và khồi lượng tín dụng. Dựa trên những con số thống kê này, mà NHTU sẽ ấn định tỉ suất lãi.
Có 3 loại tổng gộp, mang tên M1, M2, và M3. M1 nằm trong lòng M2, còn M2 nằm trong lòng M3. Bây giờ ta thử xem các tổng gộp này tương ứng với cái gì:
Tổng gộp M1 bao gồm các đồng tiền giấy hoặc tiền kim loại hiện đang lưu hành và được giữ trong các sổ tiết kiệm (các tài khoản vãng lai). Đối với nước Pháp, khối M1 lên đến 593,9 tỉ euro vào tháng 12/2006 (theo đấy 122 tỉ euro dưới dạng tiền giấy và tiền kim loại) và 3677 tỉ euro đối với khối đồng tiền châu Âu.
M2 bằng M1 cộng thêm “tín dụng ngắn hạn”. Tín dụng ngắn hạn chủ yếu liên quan đến các tài khoản trên các sổ tiết kiệm kỳ hạn dưới 2 năm. Đối với nước Pháp M2 này lên đến 1074,6 tỉ euros vào tháng 12/2006 và 6630 tỉ euro đối với khối đồng tiền châu Âu.
M3 bằng M2 cộng thêm những đầu tư tiền tệ khác, thực chất là những sổ tiết kiệm kỳ hạn trên 2 năm trở đi, và những OPCVM tiền tệ. Tổng gộp M3 là chỉ sổ lớn nhất liên quan đến tín dụng ngân hàng, chứ không phải toàn bộ tín dụng mà một phần chuyển trực tiếp qua bởi các thị trường tài chính. Đối với nước Pháp, M3 lên vào khoảng 1483,3 tỉ euro vào tháng 12/2006, còn khối khối đồng tiền châu Âu thì vào khoảng 7732 tỉ euro.
Người ta để ý là 2 thành phần của M1 (tiền giấy, tiền kim loại và tài khoản vảng lai) là “tiền tươi” có sẵn ngay liền như là phương tiên thanh toán. Ngược lại, các thành phần hình thành M2 và M3 là hoàn toàn tín dụng, là những tích sản tài chính dùng làm dự trữ giá trị, không có sẵn ngay liền như là phương tiện thanh toán.
Tuy nhiên, những tích sản này có thể được biến đổi dễ dàng thành tiền bởi những người gởi tiền. Chỉ cần một nghiệp vụ ngân hàng đơn giản để chuyển những tích sản này lên các tài khoản vãng lai của khách hàng, và như vậy trở thành “tiền tươi”. Vì lý do đó, người ta thường gọi là những tích sản “bán-thanh khoản” (semi-liquide).

Sự tiến hóa của những tổng gộp tiền tệ
Những con số thống kê liên quan đến một năm, như những dữ liệu kể trên, sẽ không giúp gì chúng ta trong việc hiểu biết về những tổng gộp tiền tệ. Nhưng khi quan sát đến những tiến triển theo thời gian của các con số này lại là một chuyện khác.
Là lô gic khi các số tiền này tiến triển theo sự tăng trưởng của GDP, vì rằng sản xuất tăng thì thu nhập cũng tăng theo cũng như sự tăng trưởng khó tránh khỏi của đồng tiền và tiết kiệm. Bảng dưới đây cho thấy sự tiến triển theo thời gian (từ năm 1997 đến năm 2006) của những tổng gộp tiền tệ khác nhau đối với euro zone, tính theo tỉ lệ GDP để bù trừ những biến thiên của nó.

Người ta nhận ra rằng trong 10 năm qua có một tăng trường rất mạnh của khối tiền tệ. Trị giá của M1 đi từ 26% lên 44% trên GDP, còn M2 đi từ 61% lên 80% và M# đi từ 71% lên 93%. Một tiến triển như thế không lạ gì đối với khối euro zone, mà có thể tìm thấy trong tất cả các nước phát triển.
 7) Vốn tài chính và thị trường tài chính
Nếu hệ thống ngân hàng có đặc quyền tạo ra tiền tệ, nhưng lại không có độc quyền về tín dụng mà nó phải chia sẻ với các tổ chức tài chính, với các xí nghiệp và với hộ gia đình. “Ngân hàng” trong nhiều thập kỷ qua giữ vai trò chính trong khối lượng tín dụng mà ngân hàng cho lưu hành, nhưng giờ đây ngân hàng thấy vai trò này đã giảm lần trong những thập niên gần đây. Ngày nay, phần lớn tín dụng xảy ra trực tiếp trên các thị trường tài chính, và các ngân hàng chỉ giữ vai trò đơn giản trung gian.
Các thị trường tài chính là nơi người ta thương lượng vốn tài chính. Cụ thể là các thị trường chứng khoán, nhưng chủ yếu là những thị trường ảo theo đấy các giao dịch sẽ diễn ra trên internet. Đồng tiền được cho thuê ở đây, cũng như được trao đổi lấy những phiếu có thể được thương lượng còn được gọi là những tích sản tài chính hoặc vốn tài chính.
Người ta phân biệt những thị trường khác nhau ít nhiều chuyên môn hóa, nơi mà những phiếu khác nhau được bán ra, mà những phiếu phổ biến là trái phiếu và cổ phiếu.
Các trái phiếu : đây là những thương phiếu được phát hành bởi các xí nghiệp hoặc bởi Nhà Nước. Mua một trái phiếu 100 Euros, được phát hành bởi một xí nghiệp, được xem như là cho xí nghiệp này vay 100 Euros.
Các trái phiếu sẽ được trả lãi theo một tỉ suất nào đó, và sẽ được thanh toán theo kỳ hạn được trù liệu. Có nhiều loại trái phiếu khác nhau: theo tỉ suất cố định hoặc theo tỉ suất thay đổi, được chỉ số hóa, hoặc có khả năng được chuyển đổi thành cổ phiếu, v.v..
Thông thường xí nghiệp phát hành trái phiếu sẽ không mua lại trái phiếu trước kỳ hạn, người năm giữ trái phiếu cũng có thể bán nó đi trên thị trường.

Các cổ phiếu : các cổ phiếu không phải là những phiếu nợ, nhưng là phiếu quyền sở hữu xí nghiệp, và mỗi người nắm giữ cổ phiếu là chủ sở hữu một phần của xí nghiệp đã phát hành những cổ phiếu này. Dựa trên danh nghĩa này, người nắm giữ cổ phiếu sẽ nhận được một phần lợi nhuận vào cuối kỳ kế toán, được phân phối dưới hình thức những cổ tức.
Trị giá một cổ phiếu sẽ được ấn định bởi thị trường chứng khoán, tùy theo cung cầu. Trị giá này chắc chắn tùy thuộc cổ tức mà xí nghiệp trả cho, nhưng phần lớn tùy thuộc vào viễn ảnh lợi nhuận có được trong tương lai.
Khác với các trái phiếu có một kỳ hạn được ấn định trước, và số tiền trái phiếu sẽ được thanh toán đúng kỳ hạn, còn các cổ phiếu thì thời gian sống bị giới hạn vào thời gian “sống dai” của xí nghiệp.

 Thấy rằng tiền tiết kiệm ngày càng tăng cần được đầu tư, nên các thị trường tài chính phát triển ồ ạt với sự toàn cầu hóa, các sản phẩm tài chính được đề nghị cho công chúng ngày càng nhiều. Do đó, ta có thể mua những phiếu nợ khác nhau, tương ứng với những khoảng cho vay đối với xí nghiệp, cơ quan hành chính công quyền hoặc hộ gia đình. Người ta có thể gom lại các phiếu nợ rồi cho bán ra dưới dạng trái phiếu, như trường hợp tín dụng tồi tệ khá nổi tiếng “subprimes” (dưới chuẩn) ở Mỹ vào năm 2007.
Từ những năm 1980 trở đi, người ta chứng kiến sự trổi dậy mạnh mẻ của những sản phẩm tài chính được gọi là “produits dérivés”, sản phẩm phái sinh, được xem như là phần lớn hoạt động của các thị trường tài chính.
Các sản phẩm phái sinh (produits dérivés)
Để đáp ứng nhu cầu của một công trường, xí nghiệp X đã trù liệu mua một số lượng lớn sắt thép trong 6 tháng tới, hoặc xí nghiệp sợ từ đây tới đó sẽ có một đợt tăng giá thép. Để tránh rũi ro này, xí nghiệp đi tìm trên những thị trường chuyên bán hàng theo kỳ hạn, một đối tác chịu bán trước cho xí nghiệp trong 6 tháng số thép cần thiết theo giá cố định. Xí nghiệp chịu ứng trước một phần nhỏ trên số tiền giao dịch, số tiền còn lại sẽ thanh toán 6 tháng sau.
Bản hợp đồng (sản phẩm tài chính) được ký kết và được gọi là “sản phẩm phái sinh” vì nó dựa trên trị giá của một sản phẩm khác.
Loại mua hàng “theo kỳ hạn” có thể gây ra một rũi ro, không phải đối với xí nghiệp mà đối với đối tác. Nếu giá thép tăng, thì phía đối tác sẽ bị lỗ, còn nếu giá thép hạ thì đối tác lời. Đối với xí nghiệp, nghiệp vụ trên là một bảo đảm giúp xí nghiệp tránh rũi ro, nhưng đối với đối tác nghiệp vụ này hoàn toàn mang tính đầu cơ.
Trong thí dụ kể trên, cố tình đơn giản, sản phẩm phái sinh dựa trên một mặt hàng, tuy nhiên trí tưởng tượng của những người tham gia rất phong phú, và người ta có thể mua bán theo kỳ hạn các cổ phiếu, ngoại tệ hoặc kể cả chỉ số thị trường chứng khoán. Các sản phẩm phái sinh thường liên quan đến các tỉ suất lãi hoặc tỉ suất hối đoái, và người ta gọi chúng là những “swaps”.

 Những bên tham gia vào các thị trường tài chính thường là những “định chế tài chính”: đó là các quỷ đầu tư, các quỷ tín dụng, các hãng bảo hiểm và lẽ dĩ nhiên các ngân hàng. Các quỹ hưu bổng có nhiệm vụ quản lý tiền tiết kiệm hưu bổng của công nhân viên. Những quỷ được gọi là hedge-funds, thường chuyên vào đầu tư rũi ro. Một vài định chế, chẳng hạn những hedge-funds và quỷ đầu tư, thường dành cho những hộ giàu có có những khoảng tiền lớn cần đầu tư, hoặc những định chế tài chính bị thu hút vào hy vọng kiếm lời nhiều hơn trung bình.
Các bên tham gia này là những tay chuyên nghiệp bị ám ảnh lôi kéo bởi những mối lợi, bị kích thích bởi những tiền thưởng, quan tâm duy nhất là sinh lợi tối đa đối với vốn mà người ta gởi gắm.

8) Sự tăng trưởng của tín dụng
Như đã nói trước đây, tiền tệ và tín dụng là 2 yếu tố cần thiết cho mọi phát triển kinh tế. Trong một hệ thống tiền tệ kim loại dựa trên kim loại quý, thì khối lượng tiền tệ kim loại có sẵn sẽ tùy thuộc vào khối lượng kim loại (vàng chẳng hạn) được khai thác ra trong hiện tình. Việc tạo ra tiền tệ và việc tăng trưởng kinh tế được gắn kết với nhau tùy thuộc như vậy vào khả năng khai thác kim loại quý hiếm.
Vào năm 1971, tổng thống Mỹ Nixon tách rời trị giá đồng đô la khỏi giá trị vàng (được dùng làm kim bản vị từ trước tới thời điểm này), và tín dụng trở thành hỗ trợ duy nhất trong việc tạo ra tiền tệ. Việc tách rời này kéo theo một bùng nổ cung cấp tín dụng, và các ngân hàng cũng như thị trường tài chính tăng trưởng một cách chưa từng có đến nay. Việc này là nguyên nhân thực sự của một cuộc cãi cách tiền tệ và tài chính, đưa đến kết quả là hệ thống tiền tệ và tài chính được mô tả trong các phần trên.
Hệ thống này thực sự là cỗ máy tạo ra tín dụng :
một phần do việc tạo ra tiền tệ, ngày càng lớn.
và nhất là những tiện nghi được cung cấp cho tư nhân để đầu tư tiền tiết kiệm của mình, cho dù qua trung gian hệ thống ngân hàng hoặc qua trung gian những định chế tài chính hoạt động trực tiếp trên các thị trường.
Bạn nhớ lại là tiền tiết kiệm của các hộ gia đình, được đầu tư trong các ngân hàng hoặc trên thị trường tài chính, hình thành thực chất vốn tài chính. Chính là những cá nhân là chủ sở hữu những tích sản tài chính, hoặc trực tiếp, hoặc qua trung gian những ngân hàng hoặc định chế tài chính khác. Kể cả vốn tự có của các ngân hàng cũng thuộc đầu tiên sở hữu của các cổ đông.
Hệ thống tiền tệ và tài chính được hình thành cho phép cấp tín dụng dễ dàng, và không có gì là bất bình thường hoặc kỳ lạ khi tín dụng tăng một cách vô tận, hình như không có giới hạn. Sự tăng trưởng nổi trội này còn được dễ dàng hóa bởi việc tiết kiệm của các hộ gia đình dựa trên một lô gic tích lũy tài sản.
Tích lũy tiết kiệm
 Ta thử lấy thí dụ của một hộ gia đính Pháp có một số tiền tiết kiệm là một triệu euros. Thí dụ cuối cùng cũng là quá thông thường vì rằng vào năm 2006, ở Pháp có đến 260 000 gia đình triệu phú euros (trên số dân 65 triệu). Lẽ dĩ nhiên là dựa trên số tiền lớn như thế, đây không phải đơn giản là một số tiền tiết kiệm “tích cốc phòng cơ”, mà là một tiết kiệm vốn liếng (épargne patrimoniale), nghĩa là tài sản tài chính sinh lợi.
Giả sử số tiền một triệu Euros được đầu tư thành tích sản đem lại 8% tiền lãi mỗi năm, vị chi là 80 000 Euros.
Gia đình này thuộc loại khá giả có những nguồn lợi tức khác, nên sẽ không đụng tới số tiền 80.000 euros này cộng dồn vào một triệu euro kia, hoặc gia đình cũng có thể trích ra một ít để chi tiêu, chẳng hạn 20.000 euros, để dành 60.000 euros.
Giả định gia đình tiêu bớt 20 000 Euros, và để dành 60 000.
Như vậy tiền để dành được cộng dồn với số tiền một triệu euros, trở thành 1.060 triệu euros. Như vậy tiết kiệm của hộ gia đình tăng 6%/năm. Với tốc độ này, chỉ trong vòng 12 năm thì số tiền 1 triệu sẽ tăng thành 2 triệu euro.

Chính cơ chế tích lũy tài sản này làm cho những gia đình nào giàu sẽ giàu thêm, và tài sản tài chính bị lệ thuộc vào một động lực tăng trưởng. Vì lãi suất tiết kiệm, nên bao giờ cũng có tiết kiệm nhiều hơn, và sự đầu tư của tiền tiết kiệm này kéo theo một sự tăng trưởng không tránh khỏi các tích sản tài chính, như vậy tín dụng cũng tăng theo.

Chỉ là, nếu tín dụng tương ứng với sự giàu có của một thiểu số hộ gia đình, nó lại cho thấy một mặt tăng trưởng song song khác, mà ta gọi là mắc nợ...
 9) Mắc nợ và những giới hạn của nó
 Ngân hàng Banque de France (Pháp) cung cấp một chỉ báo thống kê được gọi là "Endettement Intérieur Total" (EIT) (Tổng mắc nợ nội địa), gộp lại tất cả các tín dụng liên quan đến các xí nghiệp, cơ quan hành chính công và hộ gia đình. Khác với các tổng gộp ngân hàng được liệt kê trước đây (M1, M2, và M3) thì EIT gộp lại tất cả các dạng tín dụng đến từ hệ thống ngân hàng lẫn các thị trường tài chính.
Biểu đồ dưới đây cho thấy diễn tiến của EIT cũng như cũng 3 cấu thành chính (nợ xí nghiệp, nợ hành chính công và nợ hộ gia đình) (nguồn : BdF – ngân hàng Pháp, Insee – thống kê, Observatoire de l'endettement des ménages – viện quan sát mắc nợ hộ gia đình).

Trên 12 năm vừa qua (1994-2006) người ta nhận ra rằng, tổng khoảng nợ nội địa đi từ 142% lền 182% GDP. Chỉ trong một thời gian ngắn sự tăng trưởng khoảng nợ là rất lớn, nhưng cũng ngang bằng sự tăng trưởng tín dụng và tích sản tài chính là phần đối ứng. Dù cho sự tăng trưởng nợ có vẻ thấp so với các cường quốc khác (Mỹ, Nhật), nhưng thật sự là không có gì an toàn, mà ngược lại.
Trong 12 năm, khoảng nợ của các xí nghiệp (các công ty không thuộc nhóm tài chính) đi từ 60% lên 72% GDP, còn khoảng nợ công của Nhà Nước lại đi từ 48% lên 63% GDP, và khoảng nợ hộ gia đình thì lại từ 26% lên 40% GDP. Tăng tưởng nợ mạnh nhất lại liên quan đến các hộ gia đình, trên 50% trong 12 năm.
Các hộ gia đình không phải là một thực thể thuần nhất, và khi nói đến tiết kiệm hoặc mắc nợ của các hộ gia đình, thì rõ ràng là phải để ý đến 2 loại hộ gia đình. Một mặt là những hộ giàu có những di sản tài chính và mặt khác là những gia đình phải mắc nợ để tài trợ chi phí thuê nhà và tiêu thụ. Trong hệ thống này, phần hộ giàu thì giàu thêm nhờ tín dụng và tiền lãi trả cho họ bởi thành phần thứ 2.
Những giới hạn của hệ thống
Nếu chỉ quan sát hệ thống theo phía tín dụng và những người cho mượn tiền, thì khó lòng thấy được giới hạn của tăng trưởng của tín dụng. Hệ thống này dựa vào khả năng tăng trưởng vô tận của tín dụng nên có vẽ bền lâu, nhưng viễn ảnh lại khác đi nếu ta nhìn theo phía nợ nần và của những người đi mượn tiền để tiêu.
Muốn tạo tín dụng một cách vô tận thì chỉ có cách làm cho người ta mang nợ vô tận, nhưng không một ai trong 3 thành phần đi mượn nợ kể trên (xí nghiệp, nhà nước và hộ gia đình) sẽ không thể mang nợ một cách vô tận.
Lần hồi khi khoảng nợ tăng dần lên, thì trở nên ngày càng khó đối với một xí nghiệp tìm ra một nguồn tín dụng khác. Nếu một vài quốc gia có thể chấp nhận tỉ lệ nợ rất cao, chẳng hạn Nhật Bản với tỉ lệ gần 180% GDP, thì không ai lại cho tình hình này là an toàn và có thể kéo dài. Còn đối với các hộ gia đình, thì có những giới hạn không thể vượt qua nếu không phải đi hầu tòa.
Cuộc khủng hoảng tín dụng “subprimes” (dưới chuẩn) vào năm 2007 tại Hoa Kỳ là hậu quả cố hữu đối với hệ thống là bao giờ cũng phải tạo ra những khoảng nợ mới. Để có thể cho mượn tiền càng nhiều càng tốt, tại ngân hàng người ta cho vay tưới hột sen đối với những hộ gia đình (phần lớn ở Mỹ là những hộ gia đình nghèo người Mỹ đen là nạn nhân của cuộc khủng hoảng  subprime) mà người ta biết rõ là sẽ không trả nỗi nợ.
Hệ thống tiền tệ và tài chính hiện thời cho thấy những lợi ích to lớn so với hệ thống dựa trên tiền tệ kim loại, nhưng rất tiếc, là nếu thiết lập hiện thời hệ thống lại dựa trên một kỹ thuật không mạch lạc. Dựa trên lãi suất cho vay và sự tích lũy tài sản tài chính từ đấy ra, lô gic nội tại của hệ thống đòi hỏi một sự tăng trưởng nợ vô tận.
Lô gic nội tại này dẫn đến 2 sai lầm chính:
sai lầm chính mang tính đạo đức, quyền tư hữu đối với tiền lãi là cỗ máy tạo sự bất công ngày càng tăng trong hệ thống xã hội kinh tế. Đây là một đặc quyền dành cho người giàu cho phép làm giàu trên số phận của người nghèo.
Sai lầm thứ hai mang tính kỹ thuật làm cho hệ thống này không chịu nổi theo thời gian: Việc không có khả năng tăng trưởng của việc tăng trưởng vô tận của việc mang nợ sẽ làm cho sự tăng trưởng vô tận của tín dụng khó lòng xảy ra, như vậy sẽ dẫn đến một cắt đứt hệ thống, mà khủng hoảng tín dụng subprime chỉ là một yếu tố cảnh báo trước.
Quyền tư hữu cho vay tiền trả lãi không có gì là tự nhiên, nhưng xuất phát từ những qui ước xã hội và bởi những luật lệ do con người làm ra. Thể thức cho vay lấy lãi, đã bị tố cáo bởi Aristote thời kỳ Hy lạp cổ đại, đã bị cấm hằng ngàn năm ở Pháp.
Sự trường tồn của một hệ thống “tiền tệ tín dụng” đòi hỏi phải vất bỏ đặc quyền này.
Tiền tệ và tín dụng lúc này mới có thể trở thành “tài sản chung”, được quản lý bởi những định chế ngân hàng công công, không còn phục vụ lợi ích riêng cho người giàu nhưng là cho toàn thể xã hội.


Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014

http://tuoitre.vn/Nhip-song-tre/Tinh-yeu-loi-song/492333/co-xanh-con-dau-ba-dam.html

CÁC NGÀNH NGHỀ MỚI TRONG TIN HỌC


MẠI VÔ !  CÁC NGÀNH NGHỀ MỚI TRONG TIN HỌC: DATA CRUNCHER, EMARKETER, ...


Sophy Caulier - Báo Le Monde  -  9/1/2014

Dương Quang Thiện (dịch)


Trong khi mọi hoạt động của xã hội ta ngày càng đi sâu vào kỹ thuật số (kts), thì việc đòi hỏi những chuyên môn mới liên quan đến kts là chuyện đương nhiên. Ta có thể kể những chuyên ngành mới như: (1) triển khai một ứng dụng đối với điện thoại thông minh (smartphone), hoặc đối với một máy tinh bảng (ipad); (2) phân tích hành vi của một người mua sắm trên mạng để có thể cung cấp cho người này một vụ mua bán hoàn toàn phù hợp với tánh cách mà người này không thể tử chối; (3) thiết kế một trang web vừa hấp dẫn, tiện nghi, thân thiện với người dùng; (4) khơi động cuộc sống số của một cộng đồng dân chúng chỉ hiện hữu trên mạng. 

Khi thương mại điện tử trực tuyến lần lượt đi vào hoạt động trong cuộc sống tiêu thụ, khi mà các chiếc TV được nối về Internet, khi mà các văn phòng của chúng ta cũng như các tài liệu trở thành ảo, thì xã hội chúng ta đi vào công nghệ "kỹ thuật số" (digitalise), công nghệ mới này đòi hỏi những nhu cầu mới, muốn được thoã mạn thường đòi hỏi những ngành nghề mới. 

BIG DATA VÀ DI ĐỘNG
Từ giờ trở đi, ta có thể tự cho mình là những tay "data cruncher», «web designer», «geomatician» hoặc «emarketer". Theo định nghĩa, "data cruncher" là những ai có thể sử dụng CNTT để xữ lý một khối lượng dữ liệu của Big Data, kèm theo những giãi thuật toán học để tìm ra những dữ liệu có ích cho một việc gì đó, hoặc dùng vào mục đích an ninh tình báo (chẵng hạn vụ Snowden ở Mỹ). "Web designer" thiết kế các trang web thì bạn đã biết là gì. "emarketer" thì sử dụng CNTT phục vụ ngành tiếp thị thị trường để tìm ra những xu hướng mới trong tương lai của ngành sản xuất và thương mãi. Cuối cùng "geomatician", như bạn có thể đoán là chuyên viên sử dụng CNTT và đồ hoạ phục vụ ngành in bản đồ địa lý, và ngành địa dư.

Trong thực tế, các ngành nghề này xuất hiện dựa theo những khái niệm tin học thời thượng như "cloud computing" (điện toán đám mây: một kiểu dữ liệu trữ từ xa thay vì trữ tại cơ quan, xí nghiệp hoặc tại gia), hoặc "Big Data" (khối lượng lớn dữ liệu trên toàn thế giới từ nhiều nguồn khác nhau) và di động (bảng tính iPad và điện thoại di động). Các khái niệm vừa kể trên đã biến đổi những ngành nghề cỗ truyền và cấu trúc lại các kiến thức và những kỹ năng cần thiết. Yếu tố thứ nhất trong việc biến đổi này là Big Data. Nói cách khác, việc số hoá như ngựa chạy sản sinh ngày càng nhiều khối lượng lớn dữ liệu quan trọng cần được phân tích. Những hành vi của các khách mua hàng trực tuyến, những trao đổi thông tin qua điện thoại di động cũng như vị trí địa lý của các cuộc gọi, việc theo dõi bệnh lý hoặc dịch bệnh, sự hao mòn các xe cộ, việc theo dõi ngân sách của các cộng đồng địa lý khác nhau, việc đo lường chất lượng không khí, những thay đổi lưu lượng xe cộ đi ngang qua một trục lộ, vân vân..., tất cả những ứng dụng này phát sinh một khối lượng khỗng lồ dữ liệu, chỉ hữu ích nếu chúng ta biết chịu khó đặt câu hỏi và tìm ra lời giãi đáp.

Tuy nhiên, các công cụ CNTT giờ đây đã cho phép phân tích một cách chi tiết các dữ liệu. "Ngày nay người ta có thể nhận diện người vào Internet theo màu cờ quãng cáo nào, người ta biết làm ra quãng cáo có thể chấp nhận hàng chục ngàn viếng thăm mỗi ngày và theo thời gian thực, trong khi vẫn giữ bí mật người sử dụng. Như vậy, ta cỏ thể điều khiển chiến lược truyền thông của một xí nghiệp, thích ứng nhanh viêc tạo chiến lược truyền thông hoặc một thông điệp mới nếu những cái đi trước không chạy, v.v.."

MỘT MẶT HÀNG HIẾM
Muốn đạt đến kết quả này, bao giờ ta cũng phải có sẵn nhân viên có khã năng "móc nối" (tagged) mội website nào đó, thu hồi những dữ liệu từ các mạng xã hội khác nhau, những cú gọi dịch vụ khách hàng (yêu cầu giúp đở hoặc thông tin), những nhắn tin SMS..., rồi cho gắn liền vào dữ liệu căn bản của xí nghiệp và từ đấy tìm ra những thông tin có ý nghĩa. "Điều ta phải tìm thấy là những con người có khã năng làm cho dữ liệu nói lên điều gì đó, cũng như có khã năng phác hoạ những sử dụng cỏ thể được thực hiện từ các dữ liệu này", đây là phát biểu của ông Yannick Lejeune, giám đốc Internet  của nhóm Ionis, chuyên đào tạo chuyên viên cao cấp về CNTT mới.  "Các dữ liệu được thu thập từ những tụ điểm Vélib de Paris hoặc trên mạng xã hội Facebook sẽ là vô tích sự nếu bạn không quyết định sẽ làm gì với chúng"

Ngày nay, những ai có khã năng làm cho dữ liệu nói lên điều gì đó đều thuộc loại hàng hiếm. Họ được đặt cho những tên  "data scientists », « data analystes»  hoặc "data crunchers". Họ phải giỏi toán kèm theo chuyên môn về thống kê, một chút đam mê, một hiểu biết về guồng máy phức tạp của xí nghiệp, cũng như đã học qua các khoá về tiếp thị (marketing) hoặc xã hội học. Nói tóm lại, những kỹ năng hiếm. Tại Pháp (một dân số 60 triệu người) người ta đếm trên đầu ngón tay, vào khoảng 100 chuyên gia về Big Data. Văn phòng nghiên cứu thị trường, Garrtner, ước tính nhu cầu chuyên gia về Big Data trong tương lai vào khoảng 4,4 triệu người (kinh khủng) trên toàn thế giới vào năm 2015, và nhu cầu này chỉ được đáp ứng vào khoảng 40%.

CÁC LỰA CHỌN MỚI CHO NGÀNH NGHỀ TIN HỌC
Đây chính là vấn đề của những ngành nghề mới: từ khi xuất hiện nhu cầu những kỹ năng mới cho đến khi hình thành chương trình (cursus) đào tạo ngành nghề này, phải mất nhiều năm. Lẽ dĩ nhiên, ở Pháp, người ta đã đào tạo ra các phân tích viên hệ thống, nhưng những người muốn đi vào ngành tài chính vì lương bỗng cao hơn. Việc xuất hiện của Big Data giờ đây cho phép nhiều lựa chọn hơn như marketing, phân tích lưu lượng giao thông, khuyến mãi, đánh giá danh tiếng, v.v..

Ở Pháp, nhiều chương trình đào tạo đã được đưa vào hoạt động: (1) tại Grenoble, hai trường École de Management (EM - trường quản trị) và École Nationale Supérieure Informatique Mathématique Appliquée de Grenoble (ENSIMAG - Trường Quốc Gia Cao Đẵng Tin Toán Ứng dụng Grenoble) có một chương trình 6 năm đào tạo "data statège" (chiến lược gia dữ liệu) bao gồm kỹ năng kỹ thuật, kinh doanh và quãn lý; (2) tại Paris, trường Hautes Études Commerciales (HEC - trường quốc gia thương mãi) với sự giúp đở của IBM France đã cho ra một chương trình đào tạo Big Data & Business Analysis dành cho sinh viên MBA. (3) Trong khi ấy đại học Pierre-et-Marie-Curies và École Supérieure de Commerce (Sup de Co - trường cao đẵng thương mại) họ cũng đang suy nghĩ thành lập những trường chuyên dụng.

Mặc dù những ngành nghề mang những tên mới, nhưng thĩnh thoảng đằng sau cũng đã cỏ những ngành nghề đã hiện hữu. Giờ đây, ngành nghề cũ đã đi vào công nghệ kỹ thuật số để cãi thiện hiệu năng hoạt động ngành nghề cũ của họ. Thí dụ ngành "geomatician", sử dụng CNTT phục vụ ngành in ấn bản đồ địa dư, và ngành địa dư khảo sát địa chất. Thí dụ ERP đối với các ngành quản lý, v.v..

Và khi người ta đặt câu hỏi cho ông Yannick Lejeune, giám đốc Internet  của nhóm Ionis, chuyên đào tạo chuyên viên cao cấp về CNTT mới, là ai sẽ được đào tạo cho những ngành nghề mới này, một trường kỹ sư hay một khoa xã hội học, thì ông ta trã lời không do dự: "Cả hai! Giống như việc phãi dạy nền kinh tế cũ và những qui tắc của nền kinh tế mới (nd: nghĩa là đã được tin học hoá) để cho sinh viên biết qua những ngành nghề cũ hoạt động thế nào khi họ thưc hành, và các sinh viên này phải có khã năng sử dụng các công cụ CNTT trong những ngành nghề tương lai." (Nd: câu trã lời của ông Yannick Lejeune này giống ý tưởng đào tạo ERP + kinh tế - hai trong một - của nhóm BIS).

DƯƠNG QUANG THIỆN -- 5/02/2014

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014

THEO ÔNG, ĐẠI HỌC ÔNG MUỐN MỞ SẼ THẾ NÀO


Thôi để ông viết ra những suy nghĩ của ông về giáo dục VN và cách giãi quyết của ông nếu ông còn sức lực.

(1). Theo nguyên tắc là không nên kinh doanh giáo dục. Tuy nhiên trong thực tế, các trường đại học Úc đã quãng cáo khá nhiều trên các báo VN về chất lựơng giáo dục của họ. Hình như mỗi năm vào dịp hè họ bõ ra 500.000 đô để quãnlg cáo cho các trường đại học của họ. Do đó, ta nên xem ngành giáo dục như là một ngành sản xuất kinh doanh có lợi nhuận. Như vậy phải xem sinh viên ra trường như là một sản phẩm hoàn tất (end product) phải đến tay người sử dụng, đáp ứng nhu cầu và mong mõi của người sử dụng. Nhu cầu và mong mõi của người sử dụng, nhất là trong thời buổi kỹ thuật số, không bao giờ bất biến nên thường xuyên phải tìm hiểu thị hiếu thị trường để khỏi bị lạc hậu lỗi thời. Cứ xem các thí dụ của Nokia, hoặc Kodak thì thấy rõ. Họ nằm trên sự chiến thắng trong lĩnh vực họ thống lĩnh (Nokia trong điện thoạidi động, còn Kodak trong phim ãnh) quên đi sự thay đổi của thị hiếu thị trường, để rồi phải ,chuẫn bị phá sản.pq

(2). Phải có một cuộc thăm dò thị hiểu thị trường về giáo dục hiện tại đ"ối với dân chúng, nhất là đối với những gia đình có con học ở nước ngoài (vì sao họ cho con du học ngoại quốc, giáo dục VN khiếm khuyết ở chỗ nào trong mắt họ). Chính kết quả của những thăm dò thống kê này cho phép biết rõ những khiếm khuyết của hệ thống giáo dục của ta hiện tại. Và từ đó mới có thể phác hoạ một chương trình đào tạo khả thi cho tương lai. Phải làm marketing và PR một cách có ý thức. Sau này, khi sinh viên ra trường phải có một bộ phận theo dõi sự nghiệp của họ, để biết "sản phẩm" của mình có được dùng đúng công năng hay không. Phần lớn các đại học không muốn biết sinh viên ra trường đang làm gì, sống thế nào, có đúng ngành nghề được đào tạo hay không và cho biết ý kiến về cách đào tạo của trường thế nào.

(3). Lúc này, ta có thể lên chương trình các môn cần được đào tạo trãi dài theo thời gian. Tìm kiếm những giảng viên cho các môn này. Nên tính chuyện thuê chuyên viên, giảng viên ngoại quốc và các chuyên viên ở các cơ quan xí nghiệp (để sau này họ có thể giúp giới thiệu sinh viên ra trường vào các cơ quan họ đang làm việc), ngoài giãng viên cơ hữu. Phải tỉnh chuyện trã lương cao để giữ chân họ. Phải cân bằng thời gian giãng dạy và thời gian nghiên cứu theo xu hướng của thế giới để nâng trình độ của sinh viên.

(4). Nên giảm đi thời gian đào tạo (chừng 3 năm tối đa) nhưng tăng thời lượng học của sinh viên bằng cách tận dụng phương pháp dạy trực tuyến, Internet, cũng như thư viện trực tuyến. Các giãng viên phải rành việc soạn các giáo án điện tữ, chấm điểm bằng máy tính. Việc dạy phải qua trực tuyến. Việc quản lý sinh viên sẽ được thực hiện bằng tin học như vậy sẽ giảm chi phí hành chính nhưng vẫn bảo đãm sự chính xác trong số liệu của quản lý.

(5). Phải tính toán một cách chỉnh xác theo thời gian chi phí của từng bộ môn, làm thế nào phải tiết kiệm, nhưng vẫn bảo đãm thu nhập cao để thu hút và giữ chân giãng viên giỏi, nghĩa là chi phí gián tiếp phải giãm tối đa bằng cách sử dụng tin học trong quản lý hành chánh. Làm thế náo tạo một HTTT quản lý sinh viên và kế toán chỉ cần một nhân viên điều hành, chứ không cần đến một bộ máy cồng kềnh ngốn hết phần lớn ngân sách của nhà trường.

(6). Phải tìm ra một địa điểm lý tưởng cho việc học hành, thành lập đại học. Thí dụ, ở Canada, thành phố Montreal trở thành một thành phố đại học. Theo tôi, Nhatrang hoặc Đà Lạt là nơi lý tưởng để mỡ trường đại học, giá đất và chi phí sinh hoạt ở những nơi này rẽ hơn so với tp HCM hoặc Hà Nội, không khí lại trong lành, ít bị cám dỗ ăn chơi đối với sinh viên. Phải kiếm một miếng đất trên 20ha, giá mua hoặc giá thuê rẽ hoặc miễn phí càng tốt để có thể đào tạo ít nhất 15.000 sinh viên.

(7). Nếu có số mặt bằng kể trên, thì nên tạo một loại campus như ta thường thấy ở Ủc hoặc ở Mỹ. Ngoài cơ sở dạy học, thì phải có cư xá sinh viên, nhà ăn, tiệm bán thực phẩm, sách báo cho sinh viên, quán cà phê, làm thế nào chi phí sinh viên bõ ra phãi vào túi của nhà trường, không được cho tư nhân ăn theo. Làm thế nào, sinh viên, ăn ở học tập, 24/24g không ra ngoài khuông viên campus. Ngoài ra, phải có sân vận động, sân thể thao, và cơ sở thể dục. Các giãng viên cũng thế. Làm thế nào giảng viên luôn luôn ở cạnh trường, thông qua các biệt thự lưu trú dành cho giãng viên cơ hữu hoặc giãng viên thĩnh giãng. Nhân viên phục vụ các cơ sở tiện ích kể trên phải có thái độ lịch thiệp coi sinh viên như là khách du lịch học hỏi chứ không phải kẽ ăn xin để có thái độ mậu dịch quốc doanh ở miền bắc thời bao cấp.

(8). Phải thành lập một hội đồng lo vận động các gia đình giàu có, tha thiết với giáo dục quốc gia, cho nhà trường "mượn không trã lãi" một số tiền (tối thiểu 100 triệu, tối đa 300 triệu) trong một thời gian nhất định (từ 2 năm đến 4 năm), với cam kết đúng kỳ hạn nhà trường sẽ  hoàn trã lại đầy đủ số tiền đã mượn. Số tiền cho mượn  sẽ không có điều kiện kèm theo đối với nhà trường (trường phải ưu ái đối với con cái của phụ huynh đã cho mượn tiền, chẵng hạn). Ngoài ra, cũng nên vận động những mạnh thường quân thiết tha với giáo dục (như ông chẵng hạn) đóng góp vào quỹ này. Tiền thu được sẽ đem gởi ngân hàng theo định kỳ để lấy lãi. Số tiền gốc phải được bảo toàn, không được rút ra dùng đầu tư vào việc nào đó. Người Việt ta có cái tật lem nhem trong vấn đề đụng đến tiền bạc. Nhà trường chỉ sẽ lấy tiền lãi để chi vào chi phí hoạt đồng của nhà trường.

(9). Phải sử dụng tối đa tin học vào giãng dạy và quản lý của nhà trường. Các giãng viên ngoại cũng như nội phải biết soạn bài giãng điện tữ. Mỗi sinh viên phải được trang bị một laptop cho việc học trên mạng. Nội dung các tín chỉ sẽ được học bất cứ lúc nào, miễn bảo đãm thời lượng, và kết quả học hành sẽ hoàn toàn được quản lý bởi máy tính, chính xác, minh bạch, không cần đến nhân sự quản lý hành chính.

(10). Các môn học phải được dạy bằng tiếng Việt, vì khi ra trường là để phục vụ dân Việt chứ không phải dân Âu Mỹ. Đừng nên nại lý do là ta vào WTO nên công dân ta sẽ là công dân quốc tế, nên phải nói tiếng Anh như gió, còn tiếng Việt thì nói lọng cọng lơ lớ như là dân ngoại quốc. Lẽ dĩ nhiên là sinh viên phải  biết đọc, viết rành tiếng Anh chủ yếu là đọc hiểu các sách báo tài liệu tiếng Anh dùng trong bộ môn ngành nghề của mình. Hình như mình đang đánh mất tự ái dân tộc. Người ta đã thiết kế thời trang kiểu âu mỹ, đào tạo người mẫu theo kiểu mỹ, rồi bắt đầu ca hát tiếng anh, và cuối cùng nhãy đầm kiểu âu mỹ. Chắc là sắp tới bõ dùng tiền đồng qua dùng tiền đô. Chĩ những môn nào dùng giãng viên ngoại quốc, thì dùng tiếng anh, còn lại thì dạy tiếng Việt. Nên biết người Pháp rất dốt tiếng Anh, đến nỗi gần đây báo chí Anh than phiền là các nghị sĩ Pháp nói tiếng Anh dỡ ẹt (và ông cũng thế).

(11). Phải  đào tạo sinh viên có tinh thần khởi nghiệp (start up) ngay tử ngày đầu, phải tự mình tìm ra cách tạo một xí nghiệp chứ đừng chờ một công ăn việc làm của người khác ban cho.

(12). Phải trù liệu một bộ phận nghiên phát triển (R/D) để tăng cường chất lượng đào tạo của nhà trường, kết hợp với việc khởi nghiệp của sinh viên, làm thế nào đào tạo một lớp người trẽ có khả năng tạo những xí nghiệp mới tạo công ăn việc làm cho dân chúng.

KÊ KHAI TÀI SẢN, CHUYỆN CŨ MÈN


KÊ KHAI TÀI SẢN, CHUYỆN CŨ MÈN...

Sáng nay đọc TT, đọc cái tít: "Tăng cường lãnh đạo của Đãng về kê khai tài sản". Chuyện cũ mèn, mà sao cứ nhai đi nhai lại hoài, chán bỏ mẹ. Ai cũng biết rõ, kể cả vị lãnh đạo cao nhất nước, trong thời buổi này không ai chịu kê khai rõ như trong thời chiến tranh miền Bắc chống đế quốc Pháp và Mỹ. Vì ai cũng biết tõng tài sãn mình hiện có phần lớn đều là nguồn gốc bất minh cã. Thứ đến, chã cỏ đủ người trong bộ máy chống tham nhũng để xác minh việc kê khai tài sản của toàn thế các cán bộ đương quyền có trung thực hay không. Mà có kê khai, thì việc 10 năm sau mới xét xong, thì chẵng khác nào "cứt trâu để lâu hoá bùn", huề cã làng. Cuối cùng cứ xem cái vụ Vinashin, 12 đoàn thanh tra được gởi đến mà không phát hiện ra cục ung bướu 86.000 tỉ nợ. Nghĩ cũng lạ, cái xứ sở chi mà kỳ cục thế. Nói tóm lại, dân bây giờ theo cái châm ngôn gì đó: "chó có sủa thì cứ sủa, đoàn lạc đà ta đi thì cứ đì".

Nói chơi cho vui, chứ tôi cũng muốn kể cho các bạn nghe kiểu chống tham nhũng của Pháp cách đây 60 năm, khi tôi đang du học ở Pháp năm 1955. Bạn nên nhớ, thời ấy không có máy điện toán như bây giờ, tất cả đều bằng tay, và dân số Pháp vào thời ấy vào khoảng 40 triệu người.

Vào năm 1954, chính quyền Pháp ra một đạo luật mang tên: "Signe extérieur de la richesse", dịch là "Dấu hiệu bề ngoài của sự giàu có". Mục đích của đạo luật này chống tham nhũng trong giới chính quyền, nghĩa là công chức cao cấp cũng như thấp cấp, không áp dụng cho tư nhân. Cách làm như thế này, rất đơn giản. Người Pháp họ lý luận như sau: nếu ai đó tiêu xài nhiều hơn những gì mình kiếm được trong một khoảng thời gian nào đó, thì sự sai biệt giữa thu nhập và chi tiêu cho thấy là có dấu hiệu bề ngoài của sự giàu có. Và chỉ cần xem xét cái dấu hiệu bề ngoài này thì biết sự tăng trưởng tài sản là hợp pháp hay là không. Người bị nằm trong tầm nhắm sẽ không bị bắt buộc kê khai gì hết, vì người Pháp họ biết rõ chã ai dại khai "thưa ông tôi ở bụi này".

Bây giờ, họ phân tích thu nhập của một công chức gồm những gì: (1) tiền lương hằng tháng, và tiền thưởng cuối năm. Vì là công chức, thì lương do một bộ phận thống nhất làm lương, phụ cấp cho toàn bộ công chức cả nước. Do đó, hằng năm bộ phận này phãi gởi danh sách thu nhập của từng công chức quèn lên đến tổng thống, cho sở thuế. (2) tiền thừa kế gia tài. Khi chia gia tài, kết quả sẽ được phòng chưỡng khế (notaire, bây giờ ta gọi là công chứng) gởi về cho thuế vụ, để tính thuế thừa kế tài sản, cũng như để ghi vào phần thu nhập của người thụ hưỡng. (3) tiền lãi ngân hàng hằng năm. Cuối năm, ngân hàng thường tính lãi cho tài khoản khách hàng và tiền thuế bị cấn trước giùm cho thuế vụ. Các chi tiết này ngân hàng thường gởi cho thuế vụ, để tính thuế thu nhập của người dân. Thuế vụ ghi số tiền lãi này vào phần thu nhập của người công chức. Như vậy, trong hồ sơ công chức ở thuế vụ 3 mục vừa kể trên được tập hợp một cách dễ dàng thành phần thu nhập, những thập niên 60 về trước làm bằng tay, nhưng qua thập niên 70 thì hoàn toàn tự động bằng máy vi tính.

Bây giờ, họ phân tích phần chi tiêu: (1) nếu biết được gia cảnh, độc thân hay có gia đình, có con cái hay không, bao nhiêu, v.v.. thuế vụ sẽ biết được chi tiêu hằng năm bao nhiêu cho sinh hoạt của từng công chức. (2) tiền thuê nhà nếu có. Thường ở Pháp, đi thuê nhà phãi có hợp đồng. Phòng chưỡng khế, nơi làm hợp đồng bao giờ cũng kê khai cho thuế vụ biết các hợp đồng thuê nhà. Ở Pháp, chũ nhà trọ phải kê khai tiền cho thuê nhà, như là thu nhập của chủ nhà trọ, còn văn phòng chưỡng khế cũng phãi khai vì họ lấy tiền dịch vụ làm hợp đồng, nên xem là thu nhập.
(3) tiền mua nhà, chung cư, nhà nghĩ mát, hay đất đai nếu có. Khi phòng công chứng & địa chính làm xong hồ sơ mua đất đai nhà cữa của công chức, thì thuế vụ sẽ tính thuế trước bạ, và ghi vào hồ sơ công chức một cách tự động. (4) khi công chức mua một chiếc xe hơi, một du thuyền, một cái gì chạy trên đường, trên không hoặc trên bộ, thì nơi đăng ký cạt vẹt phãi gởi chi tiết này về thuế vụ để tính thuế lưu hành, và để ghi vào hồ sơ đương sự. (5) khi công chức mua một nhẫn kim cương đắt giá, thì tiệm vàng phãi làm hoá đơn đầy đủ chi tiết gởi bản sao hoá đơn cũng phãi được gởi về cho thuế vụ. Nói tóm lại, 5 mục chi tiêu này thuế vụ đều nắm đầy đủ, khỏi cần công chức kê khai.

Như vậy, thuế vụ là nơi tập trung các số liệu đầy đủ chi tiết về thu chi của một công chức. Khỏi phãi bắt công chức kê khai cho rườm rà. Các công chức cao cấp thường bị buộc phãi giao cho văn phòng luật sư kê khai thu nhập, vì nếu luật sư cà chớn thì sẽ bị rút giấy phép hàng nghề. Nói tóm lại, thuế vụ là nơi thu thuế, và cũng là nơi chống tham nhũng hữu hiệu nhất. Người Pháp họ không có cơ quan chống tham nhũng, nhưng họ dùng thuế vụ để điều tra gian lận thuế, và phó sản (by product) của công việc của họ là giản tiếp chống tham nhũng hữu hiệu, ít tốn kém.

Bây giờ, bạn thử suy ngẫm có thể làm được hay không ở VN. Theo tôi, thì rất dễ dàng, khi trong tay ta đã có không biết bao nhiêu là máy tính trong cơ quan thuế vụ. Phần mềm thì chã có chi phải viết, phãi tốn kém về mặt lập trình. Nếu sử dụng phần mềm Access 2013, thì chi phí rất nhỏ nhoi, 2-3 tỉ đồng. Đừng nghe các ông chuyên viên tin học phóng đại là phãi chi 20, 30 ngàn tỉ đồng mà tiền mất tật mang.

DƯƠNG QUANG THIỆN -- 13/1/2014

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014


SỐNG LÂU ĐANG GIẾT CHÚNG TA

George Ugueux - Le Monde (Pháp) - 18/01/2014
Dương Quang Thiện (dịch)

Có người chúc Thiện mỗ: sống lâu trăm tuổi. Không biết để làm gì? Nhân đọc được bài báo Pháp, khá thú vị
nên dịch cho bạn đọc để mà suy gẫm trong dịp đầu Xuân, khi đi chúc Tết bà con bạn bè.
Trong một buỗi diễn thuyết tại Columbia Business School, ông chủ tổ chức Blackrock, một tổ chức quỹ lớn nhất thế giới, nhân dịp này đã truyền đi một thông điệp. Trước đây, tại đại học New York, ông ta đã tuyên bố là "sự sống thọ của chúng ta đang giết chúng ta".

Trong khi ở Pháp, MEDEF, tổ chức chủ doanh nghiệp, đề nghị đóng băng các quỹ hưu trí, còn các nghiệp đoàn lao động thì từ chối chương trình hành động của chánh phủ, thì trong khi cã hai tổ chức gây chiến ở hậu phương, người ta nghe rõ mồn một tiếng kim đồng hồ điểm năm sẽ qua đi trước khi quả bom nỗ chậm mạnh nhất sẽ nổ tung.

Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, FMI, ước tính "quả bom" này lên đến 750 tỉ livre, chỉ với Anh Quốc. Viện Milken ở Anh quốc khẵng định là vài hệ thống hưu trí ở Anh quốc đã đến giờ nói lên sự thật (nd: nghĩa là hết tiền rồi trong quỹ hưu, bà con ơi).

Sự gia tăng dân số về hưu

Các nước châu Âu đang đứng trước một vấn đề mà họ gọi là một quả bom nổ chậm về mặt xã hội và tài chính. Và cũng có thể là vấn đề của châu Á trong tương lai không xa, trong ấy có VN.

Vấn đề là dân số toàn cầu đang thay đổi một cách triệt để. Người ta sống ngày càng già hơn, từ Âu qua Á nhờ những tiến bộ trong y khoa, những cải thiện trong vệ sinh, cũng như điều kiện sống tốt hơn sau thế chiến thứ 2, cho phép tuổi thọ tăng thêm 10 năm đối với đàn ông, và nhiều hơn nữa đối với đàn bà. Kể từ năm 2010, năm mà thế hệ được gọi là baby boom đã đến tuổi 65 về hưu, thì một đoàn quân hưu trí khỗng lồ ăn vào nguồn lực của quỹ hưu trí đủ loại. Hiện tượng này không chậm lại trước năm 2020, năm mà số sinh con trẽ sau thế chiến thứ 2 sẽ ngưng vượt quá số người chết. Nói cách ,khác, trong 10 năm tới, ở châu Âu, số người hưu trí sẽ tăng gấp đôi.

Số nhân dân lao động giảm đi.

Ngoài hiện tượng vừa kể trên, thì từ 25 năm nay, số lượng sinh con ngày càng giảm mạnh. Nếu bạn biết trước thế chiến thứ 2, trung bình gia đình châu Âu có 6 người con, thì bây giờ chỉ còn vào khoảng 1,5 con. VN ta cũng đang ở trong tình trạng như thế, theo chính sách kể hoạch hoá gia đình một con như ở TQ. Do đó, bên châu Âu, việc dân lao động trẻ giảm mạnh, nên việc đóng góp vào quỹ hưu trí cũng giảm theo. Tuy nhiên, trong nhiều nước ở châu Âu, việc giảm dân số lao động, đặc biệt trong phân khúc lao động chân tay không chuyên môn, thường phần lớn được bù trừ bởi chỉnh sách nhập cư từ Phi Châu qua. Việc này cho phép tăng số người đóng góp vào quỹ hưu trí. Tuy nhiên, hiện vẫn còn một mối đe doạ đối với nhập cư cũng như đối với việc đóng góp vào quỹ hưu trí.

Về đề tài này, thì thí dụ Nhật Bản là đáng lo ngại: dân số Nhật Bản đã giảm từ 120 triệu người xuống còn 80 người. Trừ khi Nhật Bản phải thay đổi chính sách nhập cư (thí dụ NB đang tuyển dụng các nữ y tá VN sang Nhật làm việc), bằng không các xí nghiệp NB phải di dời các cơ sở sản xuất ra hãi ngoại, đặc biệt vào Thái Lan, Indonesia, TQ hoặc VN. Người Nhật đang dự tính sang VN thuê đất và lao động bản địa để làm nông nghiệp. Việc này NB đã làm cách đây 10 năm rồi. TQ, với chánh sách một con cũng đã tạo sự mất quân bình về mặt nhân lực đỏng góp vào quỹ hưu trí, nên chánh quyền TQ cũng đang điều chỉnh. Tuy nhiên, phần lớn ở nông thôn các người già ở TQ vẫn còn sống chung với con cháu (3 thế hệ cùng sống dưới một mái nhà, gọi là tam đại đồng đường) nên trực tiếp được con cháu săn sóc trong tuổi già.

Sự ích kỹ của nhiều thế hệ làm trầm trọng thêm tình hình.

Nếu cứ tiếp tục theo đuổi chính sách lợi ích ngắn hạn, chính quyền cũng như các đối tác xã hội tự mình đào mồ chôn mình. Việc thiếu tầm nhìn không phải do sự thiếu hiểu biết mà ra. Thật ra, các vấn đề 
đã được biết đến, đã được mỗ xẽ nên có thể nhìn thấy trước và không thể nào tránh né được. Các định chế quốc gia cũng như quốc tế đã tiến hành những nghiên cứu khẵng định tính chất chắc chắn và kích thước của cuộc bùng nỗ trong tương lai. Chính sách con đà điểu (vùi đầu dưới cát) thiết nghĩ kéo dài cũng đã quá lâu.

Chúng ta không thể cho phép những cuộc chiến hậu phương, không những làm chậm đi mà còn làm khó khăn đối với các giãi pháp cho vấn đề. Trong nhiều quốc gia, việc chống đối nới rộng tuổi về hưu hoặc huỹ bỏ những phúc lợi xã hội thuộc thời kỳ xa xôi nào đó. Người ta liên tưởng đến việc một cán bộ nghiệp đoàn giãi thích việc công nhân lái tàu hoả đòi hỏi phải về hưu ở tuổi 55 do công việc nặng nhọc của họ: đặc quyền này xuất phát từ thời các đầu máy xe lữa chạy bằng than, nên lái tàu phải hỉt thở không khí bụi than. Chính sự bảo thủ ích kỹ đã triệt tiêu ý tưởng giãi quyết vấn đề.

Chiều kích săn sóc sức khoẽ.

Sự sống lâu tạo thêm một áp lực lên hệ thống săn sóc sức khoẽ. Không những sống lâu đem lại gánh nặng đối với chi phí y tế thêm nhiều năm nữa, mà những người già thường đòi hỏi chăm sóc nhiều hơn cũng như chi phí thuốc men tốn kém hơn nhiều. Thí dụ, một người già mắc bệnh mất trí nhớ Alzheimer đòi hỏi thường xuyên phải có người cạnh bên chăm sóc.

Mỗi năm tỉ lệ tiền bồi hoàn chi phí săn sóc y tế cho người hưu trí ngày càng tăng, và chắc chắn là sẽ không giảm đi. Trong phạm trù này, nếu không quan tâm một cách nghiêm túc đến tuổi thọ ngày càng dài, thì nguy hiểm vỡ nợ đối với hệ thống hưu trí không còn là một giả thiết, mà là vấn đề thời gian.

Nếu vấn đề trước tiên thuộc lĩnh vực xã hội, nhưng giãi pháp cho vấn đề đòi hỏi những biện pháp manh tính tài chính ngay từ bây giờ. Từ ngày người ta bỏ đi hệ thống hưu trí thông qua tích luỹ tài sản, thì những kẽ được hưởng lợi chắt chắn là những ai gặp phải khó khăn trong việc hình thành quỹ hưu trí và quỹ tiết kiệm. Tuy nhiên, thu nhập (tiền hưu trí) của họ cũng sẽ bị đánh thế. Việc đánh thuế trên tiền hưu, đã hiện hữu tại Hoa Kỳ, càng ngày càng sẽ khó tránh khỏi ở Pháp. Cho dù là đang thời buổi khó khăn, cần thiết phải nói lên sự thật đối với những ai có công ăn việc làm hoặc có thu nhập.

Nếu không tăng tỉ lệ tiết kiệm, thì không có giãi pháp nào cả.

Nếu bây giờ ta không chịu khó tiết kiệm chuẩn bị cho tuổi già, thì trong tương lai, một phần lớn dân số sẽ không có đủ thu nhập, nếu không nói là thực sự đi vào nỗi tuyệt vọng. Xem ra vô ích khi nghĩ đến sự đoàn kết chung tay giúp đở giữa các thế hệ. Thế hệ chúng ta hiện nay đã hoang phí vô độ để có thể chờ đợi sự giúp sức của họ. 

Vì các chính sách kinh tế được tiến hành theo kiểu "tháp chứa lúa" (silo), không ai lên tiếng vấn nạn mà các chính sách dễ dãi tiền bạc sẽ đem lại cho những người hưu trí. Khi giãm tỉ suất lãi một cách vô tội vạ không đem lại lợi ích kinh tế gì, các ngân hàng trung ương Âu Mỹ không đem lại lợi ích gì cho các ngân hàng. Trong khi ấy, thì các tài sản mà các người hưu trí đã ký cóp trong nhiều thập kỹ qua đã giãm xuống một cách thãm hại, làm khó lòng tồn tại, hoặc buộc lòng các người hưu trí phải xà xẻo vào tiền dành dụm làm cho tương lai của họ ãm đạm thêm.

Đã đến lúc phải có những kế hoạch giãi cứu dài hạn trước mối nguy hại của những quả bom nổ chậm về mặt tài chính và xã hội cực kỳ mạnh của thời đại chúng ta.

DƯƠNG QUANG THIỆN -- 4/01/2014